XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI DÒNG
BẰNG ĐỜI SỐNG TUÂN PHỤC
Khi ta nói đến việc xây dựng
và phát triển Hội Dòng, Ta phải xác tín ngay từ đầu Hội Dòng tu trì không phải
là một tổ chức, một nhóm người không có gia đình sống chung với nhau, thích thì
ở không thích thì thôi, nếu cần thì cãi nhau, rồi bỏ. Hội Dòng cũng không phải là một nhà trọ, muốn
ở thì ở, muốn đi thì đi, miễn sao trả tiền sòng phẳng; cũng không phải là một
xí nghiệp hay văn phòng làm việc, đến làm việc, lấy tiền lương là xong; không
phải là nhà trường theo nghĩa đến đó học lấy bằng cấp hoặc đến đó dạy để lấy tiền
tháng. Hội Dòng cũng không phải là chung cư ta mua ta ở,; cũng không phải là một
khách sạn, mỗi người thuê một phòng, ở qua rồi đi, mặc dù mỗi người có thể có
phòng riêng …..Thế thì Hội Dòng là gì?
I.
Hội
Dòng, Một Cộng đoàn đức tin
Thánh Augustinô nói: “ Đức
tin là bước đầu của sự cứu độ con người, là nền tảng và cội rễ của mọi sự công chính hóa” (De Trinitae, XIII, 7)
Không có đức tin thì chúng ta chỉ sống và cư xử với nhau theo cách người đời,
và điều đó gây biết bao nhiêu đổ vỡ cho cộng đoàn.
Thiên Chúa không ưa
thích những ai đến với Ngài mà lại không có đức tin : “Không có đức tin, thì
không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có
Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” (
Dt 11,6)
Thánh Phaolô nói: “Hành
động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14,23)
Không có đức tin thì
không có phép lạ, không có ân sủng của Chúa : “Người không làm nhiều phép lạ tại
đó, vì họ không tin.” (Mt 13,58)
Chúa Giêsu nói: “Nhưng
khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”
(Lc 18,8)
Kém lòng tin làm cho ta
suy sụp và cộng đoàn sụp đổ. Chuyện Phêrô
đi trên mặt nước đến với Chúa (Mt 14,30-31)
Đức Phaxicô nói: “Khi
ngọn lửa đức tin bị lụi tàn thì tất cả những ánh sáng khác bắt đầu lu mờ”
(Lumen Fidei số 4)
Chúa Giêsu cầu nguyện để
Phêrô và chúng ta không mất đức tin : “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất
lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.”
(Lc 22, 32). Điều chúng ta làm là củng cố đức tin cho mình và anh em mình.
Để xây dựng cộng đoàn mỗi
người phải vận dụng đức tin, chứ không dựa vào những lý lẽ trần tục : “Mọi nỗ lực
xây dựng sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu đều phải đi qua việc đào sâu lòng trung
thành với kho tàng đức tin được các Tông đồ truyền lại cho chúng ta. Một đức
tin vững chắc là nền tảng của sự hiệp thông giữa chúng ta; đó là nền tảng của sự
hiệp nhất Kitô giáo.” (Đức Bênêdictô XVI, Buổi tiếp kiến chung, 19.01.2011)
Tin vào Lời Chúa là thật
: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật.” (Ga 17,17) Lời
Chúa, mệnh lệnh của Chúa, ý định của Ngài luôn chân thật. Nếu chúng ta muốn tìm
kiếm thánh ý Ngài chúng ta phải tin rằng những gì đến từ Chúa là chân thật.
Tin Chúa ở với chúng
ta, ở với Bề trên và ở với anh em, và đang nói với chúng ta qua họ. Nếu muốn
vâng phục, chúng ta cũng phải tin Chúa ở
với Bề trên và ở với anh em. Chỉ với đức tin chúng ta mới có thể lắng nghe tiếng
Thiên Chúa qua bề trên và anh em.
Đức tin là một bước nhảy
vọt từ tự nhiên sang siêu nhiên. Khi vâng phục trong đức tin, chúng ta luôn làm
một sự nhảy vọt, một cuộc vượt qua thực sự.
Đôi lúc có chuyện này: có
những người vô thần trong cộng đoàn.
II.
Hội
Dòng, Một mầu nhiệm
Hội Dòng là một nhiệm vì
ngoài những tổ chức bên ngoài, Hội Dòng còn được xây dựng và đâm rễ sâu trong mầu
nhiệm Chúa Ba Ngôi. Tất cả cộng đoàn của chúng ta không dựa vào những nguyên tắc
nhân loại, nhưng dựa vào Cộng Đoàn của
Ba Ngôi để xây dựng cộng đoàn.
Công Đồng Vaticano II
khẳng định: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như "một dân tộc hiệp nhất do sự
hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" ( LG số 4).
Tông Huấn Vita
Consecrata số 41 nói: “ Đời sống huynh đệ nhằm phản ánh chiều sâu và sự phong
phú của mầu nhiệm này (mầu nhiệm hiệp thông), bằng cách tạo ra một nơi cư ngụ
cho Thiên Chúa Ba Ngôi giữa môi trường nhân loại, nhằm tiếp tục đưa vào lịch sử
những ân huệ hiệp thông mà chỉ duy Ba Ngôi Thiên Chúa mới có
Văn Kiện Congregavit nos
in umun Christi amor số 8 khẳng định: “ Không thể nào hiểu được cộng đoàn tu
trì nếu chúng ta không bắt đầu từ bản chất của cộng đoàn như là một ân huệ trên
cao ban xuống, như một mầu nhiệm, bắt nguồn từ chính trọng tâm mầu nhiệm Chúa
Ba Ngôi chí thánh và là Đấng thánh hoá, Đấng hằng mong muốn cộng đoàn tu trì trở
nên thành phần của mầu nhiệm Giáo Hội nhằm phục vụ đời sống con người.”
1. Một Thiên Chúa
1) Một Tình yêu
Lắng nghe và vâng phục
Thiên Chúa trong yêu mến: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến Cộng đoàn. Không có
lòng yêu mến ta khó có thể xây dựng cộng đoàn bằng sự vâng phục. Mệnh lệnh của
Chúa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn
và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn
điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận
như chính mình” (Mt 22,37-39)
Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì mệnh lệnh của
Ngài trở nên nhẹ nhàng. Ngược lại nó sẽ trở nên nặng nề : “Quả thật, yêu mến
Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng
nề gì đâu” (1Ga 5,3) Yêu mến sẽ nghe rõ, và thích nghe. Ngược lại, không yêu mến
sẽ không bao giờ nghe rõ. Nếu ta yêu mến anh em ta sẽ nghe rõ và thích nghe.
Lúc bấy giờ vâng phục trở nên nhẹ nhàng.
Khi vâng phục vì yêu mến, chúng ta không còn
vì sợ hãi nữa. Thánh Gioan nói: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình
yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì
không đạt tới tình yêu hoàn hảo.” (1Ga 4,18)
2) Một Thánh Ý
Tất cả chúng ta cùng đi
tìm thánh ý Chúa trong việc xây dựng cộng đoàn. Bề trên và bề dưới không ngừng tìm kiếm ý Thiên Chúa. Cả hai cùng
gặp nhau ở ý Chúa.
Tìm kiếm và sống theo ý
Thiên Chúa: “Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy
Thiên Chúa của con.” (Tv 40,9) và “Điều đẹp ý Ngài, xin dạy con thực hiện, bởi
Ngài là Thiên Chúa của con.” (Tv 143,10)
Muốn nhận ra ý Thiên
Chúa ta phải thay đổi : “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến
con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên
Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12,2)
Chúa muốn chúng ta làm
cái gì, chứ không phải ta muốn làm cái gì: “Anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng
hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5,17)
Cầu nguyện cho nhau để
chúng ta tìm ra ý Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên
Chúa cho anh em được am tường thánh ý Người” (Cl 1,9)
Cầu nguyện và xin Chúa
cho dấu chỉ, nếu thành tâm Chúa sẽ cho, ví dụ ông Ghít-ôn (Tl 6,36-40)
Lắng nghe và vâng phục
thánh ý Chúa thì được Chúa chúc phúc. Chúa gọi Abraham (x. St 12…). Ông nhận ra
ý Chúa và ra đi trong thử thách của đức tin,
vì thế ông được chúc phúc : “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của
ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi” (St 22,16-17)
Không lắng nghe và bất
tuân luôn để lại hậu quả cho mình và cho anh em. Ông Adam và bà Eva bất tuân
nên để lại hậu quả. Tháp Babel biểu tượng cho sự kiêu ngạo và bất tuân, hậu quả
là không hiểu nhau và sụp đổ (x. St 11, 1-9). Bà Lót không nghe lời Chúa trở
thành tượng muối.(St 19,26) Ông Saul mất tất cả vì không vâng lời Chúa: không
tuân lệnh Chúa qua ngôn sứ, tự ý dâng lễ và tha cho vua Amalek (1Sm 13 và 15)
Chúa không quan tâm đến
chúng ta làm chuyện này chuyện nọ, nghi thức này nghi thức kia, Chúa chỉ cần
nơi chúng ta một điều , đó là sự vâng phục: “Vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ,
lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1Sm15,22)
Xây dựng cộng đoàn trên
Lời Chúa, trên thánh ý của Ngài: “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra
thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn,
hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai
nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người
ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ
sụp đổ, sụp đổ tan tành.” (Mt 7, 24-27)
Lắng nghe và vâng phục
thánh ý Chúa không thể được, nếu chúng ta không cầu nguyện và không có lòng yêu
mến Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh
em được am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết mà Thần
Khí ban cho.” (Cl 1,19) Chúa Giêsu cầu nguyện suốt đêm: “Trong những ngày ấy, Đức
Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên
Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông
Đồ.” (Lc 6, 12-13)
Có khi ta nghe tiếng
Chúa nhưng không chịu làm theo, Chúa tìm mọi cách để chúng ta thi hành sứ vụ,
như Giona chẳng hạn: Chúa bảo ông đi đến Ninivê để kêu gọi dân sám hối, ông lại
xuống tàu đi Tarsit, tránh Nhan Đức Chúa… (x. Gn 1,2-16)
Có khi lúc đầu ta không
muốn làm theo ý Chúa, nhưng sau suy nghĩ lại ta lại làm (x. Mt 21,28-32)
Có khi chúng ta chạy theo
thế gian mà không chịu lắng nghe tiếng Chúa. Chúa phải la to để phá tan sự điếc
lác của chúng ta (thánh Augustino, Tự Thuật)
2. Một Đức Kitô:
1) Đức Kitô, Nền tảng cho sự vâng phục của
chúng ta
Chúa Kitô không chỉ là
gương mẫu mà là nền tảng cho việc xây dựng cộng đoàn trong sự vâng phục. Tôi và
Chúa Kitô nên một với nhau: “Tôi sống không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống
trong tôi.” (Gl 2,20) Chúng ta không thể làm gì được, không thể vâng phục thánh
ý Chúa nếu như chúng ta không có Chúa Kitô.
Chỉ có một Đức Kitô mà
chúng ta dựa vào, không có Đức Kitô khác: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng
trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô
Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người.” (1Tm 2,5-6)
Ngài hằng lắng nghe và
vâng phục Chúa Cha : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai
Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34) . Trong Ngài chúng ta lắng
nghe và vâng phục thánh ý Cha. Cả cuộc đời chúng ta là lắng nghe và vâng phục nếu
ta muốn xây dựng cộng đoàn.
Ngài đến để làm theo ý
cha: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo
ý Đấng đã sai tôi.” (Ga 6,38) Cả cuộc đời của chúng ta là thi hành ý của Thiên
Chúa như Chúa Kitô như Chúa Kitô. Chúng ta được gọi và sai đi để sống cho thánh
ý Cha.
Ngài vâng phục vì yêu mến
Cha: “Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha
và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.”(Ga 14,31) Chúng ta vâng phục vì
yêu mến Cha và cộng đoàn.
Sự vâng phục làm cho
Ngài trở nên con người có tự do. Chúng ta cũng vậy, khi chúng ta vâng phục chúng ta được giải
thoát, trở thành một con người tự do.
Vâng phục nơi Chúa Kitô là
một sự gặp gỡ giữa Ngài và Cha. Trong Chúa Kitô khi tôi vâng phục tôi cũng đi
vào trong sự gặp gỡ Cha và gặp gỡ anh em.
2) Đức Kitô, một Sự Khiêm Nhường cho chúng ta
Khiêm nhường của Chúa Kitô không
phải khiêm nhường của kẻ nhu nhược, mà là của Đấng yêu mến Cha. Càng yêu càng
khiêm nhường. Chúng ta chỉ có thể vâng phục thực sự khi chúng ta có sự khi khiêm
nhường của Chúa Kitô, khiêm nhường của tình yêu. Lúc đó khiêm nhường sẽ đánh
tan mọi thành kiến, đố kỵ, ghen ghét, … để có thể sống vâng phục thánh ý Thiên
Chúa. Chỉ trong Chúa Kitô ta mới có thể sống vâng phục trong sự khiêm nhường
3) Thập giá, tột đỉnh của sự vâng phục:
Đứng trước cái chết Ngài
vẫn cương quyết lên Giêrusalem để thi hành ý Cha: “Khi đã tới ngày Đức Giê-su
được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9,51) Trước mắt
Ngài là thử thách, đau khổ và cái chết, Ngài không bao giờ sợ hãi lùi bước.
Trong cuộc sống, chúng ta cũng dựa vào Chúa để cương quyết dấn bước, không sợ
hãi, không lùi bước trước việc thi hành ý muốn của Chúa.
Đứng trước đau khổ Ngài
vẫn cương quyết vâng theo ý Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa
con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.” (Lc 22,42) Dù có đau
khổ và thử thách chúng ta vẫn cứ vâng phục.
Vâng phục của thập giá
là một sự vâng phục vô lý và điên rồ trước mắt người đời, nhưng đó lại là sự
khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. Khi chúng ta vâng phục chúng ta cũng đi
vào trong con đường vô lý và điên rồ này, nhưng ta biết đó là sự khôn ngoan và
sức mạnh của Thiên Chúa. (x.1Cr 1 và 2)
Ngài vâng phục cho đến chết
: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên
cây thập tự” (Pl 2,8) Như Chúa Kitô, vâng phục dẫn chúng ta vào một sự từ bỏ, một cái chết, chết cho ý riêng, cho lập trường, cho tham vọng muốn thống trị
người khác…
4) Chúa Giêsu bi cám dỗ :
Ma quỷ không ngừng cám dỗ
Chúa Giêsu chống lại ý Cha: Trong hoang địa, trong hành trình rao giảng, nhưng
nhất là trên thập giá. Ngày nay chắc chắn ma quỷ không ngừng dùng mọi mưu mô để
cám dỗ chúng ta sống bất tuân ý Chúa.
Phêrô, người môn đệ của
Chúa, can ngăn Chúa khi nghe Thầy mình loan báo về cái chết :“Xin Thiên Chúa
thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông
Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh
không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,22-23)
Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta bị chính anh em cản ngăn chúng ta làm theo ý
Chúa, muốn lôi kéo chúng ta theo một kiểu sống khác không phù hợp với ý Chúa.
5) Hiệu quả của sự vâng phục
Đem lại bình an: Chúa Kitô vâng phục cho đến chết, vì thế Ngài
đem lại bình an cho chúng ta: “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã
đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1,20) Ngài trở
thành bình cho anh em mình: “Chính Người là bình an của chúng ta.” (Ep 2,14)
Bình an của Chúa khác với bình an của thế gian : “Thầy để lại bình an cho anh
em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu
thế gian.” (Ga 14,27) Khi chúng ta vâng
phục cho đến cùng, chúng ta trở thành người xây dựng bình an cho cộng đoàn. Chúng
ta không mang lại bình an cho công đoàn theo kiểu của thế gian, nhưng theo kiểu
của Chúa: vâng phục cho đến chết.
Đem lại sự sống cho con
người. Nếu chúng ta muốn cộng đoàn chúng ta sống, chúng ta cũng phải đi vào
trong sự vâng phục của Ngài. Bất tuân đem lại sự chết cho mình và cho cộng đoàn,
vâng phục đem lại sự sống cho mình và cho anh em : “Cũng như vì một người duy
nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một
người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công
chính.” (Rm 5,19)
3. Một Thần Khí
Chúa Kitô chết để ban
cho chúng ta Thần Khí của Ngài. Nếu Chúa Kitô không chết, Chúa Thánh Thần không
được trút xuống: Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng
nước hằng sống.”39 Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ
lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được
tôn vinh.” (Ga 7,38-39) chỉ sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Ngài mới thổi
hơi trên các tông đồ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22)
Có nhiều thứ thần khí,
nhưng không phải thần khí nào cũng tin: “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần
khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa
hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.” (1Ga 4,1) Làm
sao chúng ta nhận ra đâu là thần khí thế gian và đâu là Thân Khí Thiên Chúa?
Thánh Gioan nói với chúng ta : Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của
Thiên Chúa: “Thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến và trở nên
người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không tuyên xưng
Đức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Ki-tô.” (1Ga
4,2-3) Thần khí nào đẩy chúng ta đến với Chúa Kitô, sống theo sự vâng phục cho
đến chết của Ngài, thì đó là Thần Khí Thiên Chúa.
Chúng ta đang sống
trong một thế giới mà đầy dẫy những triết thuyết sai lạc. Vì vậy hãy hết sức cẩn
thận. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng
đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo
quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường” (Ep 4,14) Lúc
nào đó có thể chúng ta đang sống theo tinh thần thế tục, ta sống trong cộng
đoàn nhưng ta không sống theo tinh thần Chúa Kitô, không sống theo sự hướng dẫn
của Thần Khí. Khi ta “yêu thế gian thì ta ghét Thiên Chúa” (Gc 4,4)
Nhiều khi chúng ta sống
theo xác thịt nên ta mất phương hướng. Thánh Phaolô nói: “Những ai sống theo
tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống
theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt
là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8,5-6) Khi
không có Thần Khí hướng dần ta sẽ đi vào con đường bất tuân, và mất phương hướng,
mất bình an cho mình và cho cộng đoàn.
Sống theo Thần Khí thì ta
sống trong Ánh Sáng, sống trong sự vâng phục; còn sống theo thế gian chúng ta
đi trong bóng tối và không biết mình đi đâu, mất phương hướng: “Ai bước đi
trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu.” (Ga 12,35)
Sống theo Thần Khí là sống
trong sự thật: “Phần anh em, dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô ở lại
trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa. Nhưng vì dầu của Người dạy dỗ
anh em mọi sự - mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá, thì theo như dầu
ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Người. Vâng phục Thần Khí luôn dần chúng ta đi vào trong sự thật.
III.
Hội
Dòng, một ân huệ
Cộng đoàn tu sĩ trước tiên đó là
một ân huệ của Thiên Chúa mà mỗi người phải trân trọng với tất cả sự chân thành
của mình. Ta nói cộng đoàn là một ân huệ, bởi vì cộng đoàn đó không được tạo
nên từ chúng ta, nhưng được tạo nên từ Thiên Chúa, từ thập giá của Chúa Giêsu,
Con Thiên Chúa. Chúng ta giơ tay đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng biết ơn và
trân trọng mà đặc tính là sống theo thánh ý Chúa qua bề trên và anh em . Khi sống
thiếu sự vâng phục, chúng ta coi thường
ân huệ đó. Không thể đón lấy ân huệ đó cách ích kỷ và giả dối, trái lại phải
đón lấy với tất cả lòng khiêm tốn, yêu mến và dấn thân trong tinh thần vâng phục
cho ân huệ đó. Khi ta mở lòng ra đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng quý mến và
chân thành thì chính ân huệ đó sẽ mang lại cho chúng ta sức mạnh, sự bình an
đích thực. Trái lại nếu ta lắt léo, bất tuân và sống không thật với ân huệ đó
thì chắc chắn rằng không bao giờ chúng ta gặp được hạnh phúc, bình an đích thực,
không bao giờ có thể xây dựng cộng đoàn theo đúng ý Thiên Chúa. Chúng ta đón nhận
ân huệ đó qua sự vâng phục thánh ý Chúa qua Bề trên và qua anh em để làm cho ân
huệ đó phát triển.
IV.
Hôi
Dòng, Một sự hiệp thông
Cộng đoàn tu sĩ gồm những
con người sống hiệp thông với nhau, với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Mẹ Maria và với
các thánh, mà đặc tính là chân thành và cởi mở trong yêu thương. Không có chân
thành yêu thương thì không thể nào có sự hiệp thông được. Hiệp thông trong sự
vâng phục thánh ý Chúa và vâng phục nhau trong sự vâng phục của Chúa Kitô. Trong
cộng đoàn mọi người chia sẻ với nhau, hiệp nhất với nhau, cùng chung vai sát
cánh với nhau, theo kiểu thời các tín hữu ngày xưa : “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp
thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều
điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp
nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền
chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần
đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ.
Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. (Cv 2,42-47)
Không thể góp phần xây
dựng nếu không có sự tuân phục đối với những quy luật mang lại sự hiệp thông. Mỗi
người phải sống vâng phục luật Chúa và luật Hội Dòng.
Hiệp thông trong cầu
nguyện. Thiếu một đời sống cầu nguyện trong các giờ kinh chung luôn là một thiếu
sót lớn trong việc xây dựng cộng đoàn.
Hiệp thông trong các giờ
chung: giờ cơm, giờ hội, giờ sinh hoạt…Vắng các giờ chung thường xuyên luôn là
dấu hiệu không tốt trong sự vâng phục luật của Hội Dòng. Và đó có thể là một trong những nguyên nhân
gây lộn xộn cho cộng đoàn.
Có thể có những quan niệm
cho rằng phải kiếm ra nhiều tiền cho Hội Dòng thì ta mới là người xây dựng Hội
Dòng. Vật chất cần thiết, nhưng đó không phải là tất cả. Rất có thể Hội Dòng
phát triển về vật chất nhưng lại sa sút về đời sống thiêng liêng và huynh đệ .
V.
Hội
Dòng, Ngôi nhà Thiên Chúa
Cộng đoàn chính Nhà của Thiên
Chúa, chúng ta không được biến thành hang trộm cướp: “Nhà Ta sẽ được gọi là
nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành sào huyệt của bọn cướp.”
(Mt21,13) Cộng đoàn là đền thờ Thiên
Chúa nơi Chúa ngự : “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên
Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vậy ai phá hủy Đền Thờ
Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi
thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1Cr 3,16-17) Mỗi người xây dựng làm sao để anh em có thể gặp
Chúa và sống cầu nguyện được. Để được vậy phải để cho Thần Khí hướng dẫn, vâng
theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
VI.
Hội
Dòng, Một môi trường sống
Cộng đoàn là môi trường sống, được tạo nên do sự hiên diện của Thiên Chúa Ba
Ngôi tình thương và của những người yêu nhau. Đó là nơi mà họ sẽ quay về thường
xuyên để hít lấy nguồn khí sự sống, đồng thời họ sẽ cố gắng gìn giữ để cho môi
trường sống thiêng liêng của họ được trong lành, không bị ô nhiễm bởi những kiểu
sống trần tục… Lối sống trần tục, theo thánh Phaolô, là lối sống theo xác thịt :
“Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng
đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp,
chia rẽ, bè phái.” (Gl 5,19-20) Đó là những lối sống không vâng theo luật
Chúa, những thứ này làm cho môi trường
ra ô nhiễm, anh em không sống nổi, chúng phá vỡ cộng đoàn. Còn lối sống đem lại xây dựng và bình an là lối sống theo
Thần Khí: “Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục,
nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gl 5,22- 23) Những kiểu sống
này tạo ra môi trường sống của cộng đoàn.
VII.
Hội
Dòng, Một gia đình
Cộng đoàn tu trì là một
gia đình trong đó có Thiên Chúa là Cha, có Chúa Giêsu là Anh Cả và tất cả chúng
ta là anh anh em với nhau, mà đặc tính là chân thành, yêu thương và kính trọng
và vâng phục lẫn nhau. Ở trong cộng đoàn tu sĩ, ta sẽ nhận ra một người Cha
luôn yêu thương chúng ta cách chân thành, đó là Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu.
Không có Người Cha này, cộng đoàn tu sĩ không có ý nghĩa gì cả. Đây là một gia
đình không theo máu huyết, nhưng được sinh ra từ Thiên Chúa. “Họ được sinh ra,
không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn
của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.” (Ga1,13) Trong gia đình này mỗi
thành viên sống không dựa trên tình cảm tự nhiên tự nhiên, nhưng dựa trên đức
tin và tình thương của gia đình Thiên Chúa. Gia đình này đòi chúng ta sống thật,
sống cởi mở, sống hy sinh, lắng nghe và tuân phục lẫn nhau.
Trong gia
đình này:
+ Đức ái được đặt lên trên tất cả : “Giả
như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa,
mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe
xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm,
mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không
có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp
mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì
cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông,
không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,
không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui
khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất
cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13, 1-7)
+ Mọi người
sống hiệp nhất: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại,
bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí,
cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một
Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng
ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4,4-5)
+ Có sự tôn
trọng lẫn nhau: có cha có con, có anh có em. Thương nhau như anh em ruột thịt,
trong đó mỗi người sống tình bác, khiêm tốn và vâng phục: “Anh em hãy có cùng
một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng
làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người
khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi
ích cho người khác.” ( Pl 2,3-4) Mỗi người sống đúng với tên của mình : Anh ra
anh, em ra em.
+ Quan tâm cách đặc biệt đối với những kẻ yếu kém:
“Những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; và những bộ phận
ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả.” (1Cr 12,22-23)
+ Cùng chia vui sẻ buồn với nhau chứ không sống dửng
dưng: “ Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15) và “Nếu một bộ phận
nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ
phận cũng vui chung.” (Cr12,26)
VIII. Hội Dòng, Một trường học phụng sự Chúa
Cộng đoàn là nơi người
ta học, nhưng không học theo kiểu con người, người ta học theo kiểu của Chúa
Kitô, người ta để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và dạy dỗ mình ngang qua anh em
trong cộng đoàn. Đây là trường học yêu
thương. Ở đây không dạy để lấy bằng cấp mà dạy yêu thương và mỗi người phải học
cả đời. Mỗi người phải trở nên dễ dạy, trở nên con người vâng phục ngang qua bề
trên và công đoàn. Không chấp nhận sự hướng dẫn của Chúa thánh Thần thì không
thể vào trường học này; không vâng phục thì không thể bước vào Hội Dòng.
Chính
cộng đoàn đào tạo chúng ta. Trong trường
học này chúng ta sẽ học : ra khỏi mình, học lắng nghe, học chết đi từng ngày với
ý riêng, với đam mê, học chờ đợi, học chấp nhận khác biệt, những đóng góp ý kiến,
học tha thứ, học sống cho cộng đoàn, cho Chúa …
IX.
Hội
Dòng, một Sa mạc
Cũng như dân Israel, Cộng đoàn
cũng là nơi mà mỗi người sẽ kinh qua những đau khổ và thử thách, cũng như những
nỗi cô đơn và cám dỗ. Nhưng cũng chính
trong sa mạc của cộng đoàn mà mỗi người sẽ gặp được Thiên Chúa và sự nâng đỡ của
anh em. Trong cộng đoàn mỗi người trải qua những thử thách, thử thách lớn nhất
là sự vâng phục. Dân Israel đừng từng bất tuân, bất trung trong sa mạc, chúng
ta cũng từng sống bất tuân với Chúa.
Nhưng cũng trong sa mạc của cộng đoàn, chúng ta gặp được bàn tay Chúa nâng
chúng ta dậy. Chính trong sa mạc cộng
đoàn chúng ta cùng nắm tay anh em trong bàn tay Chúa để tiếp tục hành trình.
Chúng ta có thể sa ngã, nhưng chúng ta có một Đấng không bao giờ sa ngã dù bị
cám dỗ, đó chính là Đức Kitô. Ngài là điểm tựa cho cuộc đời chúng ta trong hành
trình đức tin này.
X.
Hội
Dòng, một quân đội
Bước vào Hội Dòng này
chúng ta như thể bước vào trong một trại lính, ở đó chúng ta cùng nhau “chiến đấu
không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những
bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao.”
(Ep 6,12) Ma quỷ không bao giờ tha cho chúng ta, vì ma quỷ, thù địch của chúng
ta, “như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1Pr 5,8) Thế gian và xác
thịt không bao giờ tha cho chúng ta.
Ma quỷ không ngừng cám
dỗ chúng ta sống bất tuân như xưa nó cám dỗ ông bà nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa.
Để chiến đấu chống lại ma quỷ, chúng ta phải chiến đấu bằng đức tin: “Anh em
hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự;” (1Pr 5,9) bằng sự tuân phục: “Anh em
hãy phục tùng Thiên Chúa. Hãy chống lại ma quỷ; chúng sẽ chạy xa anh em;” (Gc
4,7) bằng đời sống tĩnh thức và cầu nguyện: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện,
để khỏi lâm vào cơn cám dỗ” (Mt 26,41)
Chúa Kitô đã có kình nghiệm
này. Ngài đã chiến đấu và chiến thắng. Giờ đây tất cả chúng ta sát cánh bênh
nhau chiến đấu dưới cờ vua Kitô.
XI.
Hội Dòng, một nhà thương,
Cộng đoàn là nơi gồm những
người khỏe và những người ốm đau, về phần xác, về phần hồn. Và mỗi người phải sống
sự chân thành của mình bằng cách chấp nhận những yếu đuối xác hồn của nhau:
“Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức
Ki-tô.” (Gl 6,2) Mỗi người vừa là bệnh nhân , vừa là y tá, bác sĩ. Mỗi người có
những bệnh khác nhau, nhưng kiêu ngạo, bất tuân thường ai cũng mắc phải, không
nhiều thì ít. Có nhiều phương thuốc để chữa trị: khuyên lơn, sửa dạy…, phương
thuốc sau cùng là lời cầu nguyện.
Kết luận
Người tu sĩ vào nhà
Dòng là để sống theo thánh ý Chúa. Họ không ngừng tìm kiếm thánh ý Chúa qua bề
trên và anh em . Họ sẽ không sống cho mình, nhưng chỉ biết sống cho Chúa và cho
anh em. Họ có thể làm những công việc tầm thường, nhưng lại với một tình yêu
phi thường, họ sống theo ý Chúa chứ không theo ý mình. Ở đó họ không hơn thua,
tranh giành, trái lại họ tìm kiếm sự khiêm nhường, họ lắng nghe. Ở đó họ sát
cánh với anh em khi vui cũng như lúc buồn; ở đó họ cố gắng sống theo lời thánh
Phalô: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền
rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng
tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn
ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy
làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người.
Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán” (Rm12,14-19). Họ vào nhà Dòng là để phục
vụ, sống khiêm nhường, yêu thương, tha thứ, chấp nhận yếu đuối xác hồn, giúp đỡ
nhau, vâng phục lẫn nhau…. Cùng với anh em, họ góp phần xây dựng nhà Chúa, xây
dựng Giáo Hội và xây dựng Hội Dòng, cũng như góp phần xây dựng cuộc sống xã hội
bằng tình thương và bằng sự vâng phục trong đức tin.
No comments:
Post a Comment