Monday, June 29, 2026

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI DÒNG BẰNG ĐỜI SỐNG TUÂN PHỤC

 

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI DÒNG

BẰNG ĐỜI SỐNG TUÂN  PHỤC

 

Khi ta nói đến việc xây dựng và phát triển Hội Dòng, Ta phải xác tín ngay từ đầu Hội Dòng tu trì không phải là một tổ chức, một nhóm người không có gia đình sống chung với nhau, thích thì ở không thích thì thôi, nếu cần thì cãi nhau, rồi bỏ.  Hội Dòng cũng không phải là một nhà trọ, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi, miễn sao trả tiền sòng phẳng; cũng không phải là một xí nghiệp hay văn phòng làm việc, đến làm việc, lấy tiền lương là xong; không phải là nhà trường theo nghĩa đến đó học lấy bằng cấp hoặc đến đó dạy để lấy tiền tháng. Hội Dòng cũng không phải là chung cư ta mua ta ở,; cũng không phải là một khách sạn, mỗi người thuê một phòng, ở qua rồi đi, mặc dù mỗi người có thể có phòng riêng …..Thế thì Hội Dòng là gì?

I.                   Hội Dòng, Một Cộng đoàn đức tin

Thánh Augustinô nói: “ Đức tin là bước đầu của sự cứu độ con người, là nền tảng và cội rễ của  mọi sự công chính hóa” (De Trinitae, XIII, 7) Không có đức tin thì chúng ta chỉ sống và cư xử với nhau theo cách người đời, và điều đó gây biết bao nhiêu đổ vỡ cho cộng đoàn.

Thiên Chúa không ưa thích những ai đến với Ngài mà lại không có đức tin : “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” ( Dt 11,6)

Thánh Phaolô nói: “Hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14,23)

Không có đức tin thì không có phép lạ, không có ân sủng của Chúa : “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.” (Mt 13,58)

Chúa Giêsu nói: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8)

Kém lòng tin làm cho ta suy  sụp và cộng đoàn sụp đổ. Chuyện Phêrô đi trên mặt nước đến với Chúa (Mt 14,30-31)

Đức Phaxicô nói: “Khi ngọn lửa đức tin bị lụi tàn thì tất cả những ánh sáng khác bắt đầu lu mờ” (Lumen Fidei số 4)

Chúa Giêsu cầu nguyện để Phêrô và chúng ta không mất đức tin : “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22, 32). Điều chúng ta làm là củng cố đức tin cho mình và anh em mình.

 

Để xây dựng cộng đoàn mỗi người phải vận dụng đức tin, chứ không dựa vào những lý lẽ trần tục : “Mọi nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu đều phải đi qua việc đào sâu lòng trung thành với kho tàng đức tin được các Tông đồ truyền lại cho chúng ta. Một đức tin vững chắc là nền tảng của sự hiệp thông giữa chúng ta; đó là nền tảng của sự hiệp nhất Kitô giáo.” (Đức Bênêdictô XVI, Buổi tiếp kiến chung, 19.01.2011)

Tin vào Lời Chúa là thật : “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật.” (Ga 17,17) Lời Chúa, mệnh lệnh của Chúa, ý định của Ngài luôn chân thật. Nếu chúng ta muốn tìm kiếm thánh ý Ngài chúng ta phải tin rằng những gì đến từ Chúa là chân thật.

Tin Chúa ở với chúng ta, ở với Bề trên và ở với anh em, và đang nói với chúng ta qua họ. Nếu muốn vâng phục,  chúng ta cũng phải tin Chúa ở với Bề trên và ở với anh em. Chỉ với đức tin chúng ta mới có thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa qua bề trên và anh em.

Đức tin là một bước nhảy vọt từ tự nhiên sang siêu nhiên. Khi vâng phục trong đức tin, chúng ta luôn làm một sự nhảy vọt, một cuộc vượt qua thực sự.

Đôi lúc có chuyện này: có những người vô thần trong cộng đoàn.

 

II.               Hội Dòng, Một mầu nhiệm

Hội Dòng là một nhiệm vì ngoài những tổ chức bên ngoài, Hội Dòng còn được xây dựng và đâm rễ sâu trong mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Tất cả cộng đoàn của chúng ta không dựa vào những nguyên tắc nhân loại,  nhưng dựa vào Cộng Đoàn của Ba Ngôi để xây dựng cộng đoàn.  

Công Đồng Vaticano II khẳng định: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như "một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" ( LG số 4).

Tông Huấn Vita Consecrata số 41 nói: “ Đời sống huynh đệ nhằm phản ánh chiều sâu và sự phong phú của mầu nhiệm này (mầu nhiệm hiệp thông), bằng cách tạo ra một nơi cư ngụ cho Thiên Chúa Ba Ngôi giữa môi trường nhân loại, nhằm tiếp tục đưa vào lịch sử những ân huệ hiệp thông mà chỉ duy Ba Ngôi Thiên Chúa mới có

Văn Kiện Congregavit nos in umun Christi amor số 8 khẳng định: “ Không thể nào hiểu được cộng đoàn tu trì nếu chúng ta không bắt đầu từ bản chất của cộng đoàn như là một ân huệ trên cao ban xuống, như một mầu nhiệm, bắt nguồn từ chính trọng tâm mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chí thánh và là Đấng thánh hoá, Đấng hằng mong muốn cộng đoàn tu trì trở nên thành phần của mầu nhiệm Giáo Hội nhằm phục vụ đời sống con người.”

1.      Một Thiên Chúa

1)     Một Tình yêu

Lắng nghe và vâng phục Thiên Chúa trong yêu mến: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến Cộng đoàn. Không có lòng yêu mến ta khó có thể xây dựng cộng đoàn bằng sự vâng phục. Mệnh lệnh của Chúa: “Ngươi phải ​yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ​ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39)

 Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì mệnh lệnh của Ngài trở nên nhẹ nhàng. Ngược lại nó sẽ trở nên nặng nề : “Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu” (1Ga 5,3) Yêu mến sẽ nghe rõ, và thích nghe. Ngược lại, không yêu mến sẽ không bao giờ nghe rõ. Nếu ta yêu mến anh em ta sẽ nghe rõ và thích nghe. Lúc bấy giờ vâng phục trở nên nhẹ nhàng.

 Khi vâng phục vì yêu mến, chúng ta không còn vì sợ hãi nữa. Thánh Gioan nói: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.” (1Ga 4,18)

2)     Một Thánh Ý

Tất cả chúng ta cùng đi tìm thánh ý Chúa trong việc xây dựng cộng đoàn. Bề trên và bề dưới không ngừng tìm kiếm ý Thiên Chúa. Cả hai cùng gặp nhau ở ý Chúa.

Tìm kiếm và sống theo ý Thiên Chúa: “Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con.” (Tv 40,9) và “Điều đẹp ý Ngài, xin dạy con thực hiện, bởi Ngài là Thiên Chúa của con.” (Tv 143,10)

Muốn nhận ra ý Thiên Chúa ta phải thay đổi : “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12,2)

Chúa muốn chúng ta làm cái gì, chứ không phải ta muốn làm cái gì: “Anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5,17)

Cầu nguyện cho nhau để chúng ta tìm ra ý Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh em được ​am tường thánh ý Người” (Cl 1,9)

Cầu nguyện và xin Chúa cho dấu chỉ, nếu thành tâm Chúa sẽ cho, ví dụ ông Ghít-ôn (Tl 6,36-40)

Lắng nghe và vâng phục thánh ý Chúa thì được Chúa chúc phúc. Chúa gọi Abraham (x. St 12…). Ông nhận ra ý Chúa và ra đi trong thử thách của  đức tin, vì thế ông được chúc phúc : “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân ​giáng phúc cho ngươi” (St 22,16-17)

Không lắng nghe và bất tuân luôn để lại hậu quả cho mình và cho anh em. Ông Adam và bà Eva bất tuân nên để lại hậu quả. Tháp Babel biểu tượng cho sự kiêu ngạo và bất tuân, hậu quả là không hiểu nhau và sụp đổ (x. St 11, 1-9). Bà Lót không nghe lời Chúa trở thành tượng muối.(St 19,26) Ông Saul mất tất cả vì không vâng lời Chúa: không tuân lệnh Chúa qua ngôn sứ, tự ý dâng lễ và tha cho vua Amalek (1Sm 13 và 15)

Chúa không quan tâm đến chúng ta làm chuyện này chuyện nọ, nghi thức này nghi thức kia, Chúa chỉ cần nơi chúng ta một điều , đó là sự vâng phục: “Vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ ​cừu” (1Sm15,22)

Xây dựng cộng đoàn trên Lời Chúa, trên thánh ý của Ngài: “Vậy ai ​nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai ​nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại ​xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, ​nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành.” (Mt 7, 24-27)

Lắng nghe và vâng phục thánh ý Chúa không thể được, nếu chúng ta không cầu nguyện và không có lòng yêu mến Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh em được ​am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và ​hiểu biết mà Thần Khí ban cho.” (Cl 1,19) Chúa Giêsu cầu nguyện suốt đêm: “Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.” (Lc 6, 12-13)

Có khi ta nghe tiếng Chúa nhưng không chịu làm theo, Chúa tìm mọi cách để chúng ta thi hành sứ vụ, như Giona chẳng hạn: Chúa bảo ông đi đến Ninivê để kêu gọi dân sám hối, ông lại xuống tàu đi Tarsit, tránh Nhan Đức Chúa… (x. Gn 1,2-16)

Có khi lúc đầu ta không muốn làm theo ý Chúa, nhưng sau suy nghĩ lại ta lại làm (x. Mt 21,28-32)

Có khi chúng ta chạy theo thế gian mà không chịu lắng nghe tiếng Chúa. Chúa phải la to để phá tan sự điếc lác của chúng ta (thánh Augustino, Tự Thuật)

2.      Một Đức Kitô:

 

1)     Đức Kitô, Nền tảng cho sự vâng phục của chúng ta

Chúa Kitô không chỉ là gương mẫu mà là nền tảng cho việc xây dựng cộng đoàn trong sự vâng phục. Tôi và Chúa Kitô nên một với nhau: “Tôi sống không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20) Chúng ta không thể làm gì được, không thể vâng phục thánh ý Chúa nếu như chúng ta không có Chúa Kitô.

Chỉ có một Đức Kitô mà chúng ta dựa vào, không có Đức Kitô khác: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng ​trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã ​tự hiến làm giá chuộc mọi người.” (1Tm 2,5-6)

Ngài hằng lắng nghe và vâng phục Chúa Cha : “Lương thực của Thầy là ​thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và ​hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34) . Trong Ngài chúng ta lắng nghe và vâng phục thánh ý Cha. Cả cuộc đời chúng ta là lắng nghe và vâng phục nếu ta muốn xây dựng cộng đoàn.

Ngài đến để làm theo ý cha: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để ​làm theo ý Đấng đã sai tôi.” (Ga 6,38) Cả cuộc đời của chúng ta là thi hành ý của Thiên Chúa như Chúa Kitô như Chúa Kitô. Chúng ta được gọi và sai đi để sống cho thánh ý Cha.

Ngài vâng phục vì yêu mến Cha: “Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.”(Ga 14,31) Chúng ta vâng phục vì yêu mến Cha và cộng đoàn.

Sự vâng phục làm cho Ngài trở nên con người có tự do. Chúng ta cũng vậy,  khi chúng ta vâng phục chúng ta được giải thoát, trở thành một con người tự do.

Vâng phục nơi Chúa Kitô là một sự gặp gỡ giữa Ngài và Cha. Trong Chúa Kitô khi tôi vâng phục tôi cũng đi vào trong sự gặp gỡ Cha và gặp gỡ anh em.

2)     Đức Kitô, một Sự Khiêm Nhường cho chúng ta

Khiêm nhường của Chúa Kitô không phải khiêm nhường của kẻ nhu nhược, mà là của Đấng yêu mến Cha. Càng yêu càng khiêm nhường. Chúng ta chỉ có thể vâng phục thực sự khi chúng ta có sự khi khiêm nhường của Chúa Kitô, khiêm nhường của tình yêu. Lúc đó khiêm nhường sẽ đánh tan mọi thành kiến, đố kỵ, ghen ghét, … để có thể sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Chỉ trong Chúa Kitô ta mới có thể sống vâng phục trong sự khiêm nhường

3)     Thập giá, tột đỉnh của sự vâng phục:

Đứng trước cái chết Ngài vẫn cương quyết lên Giêrusalem để thi hành ý Cha: “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9,51) Trước mắt Ngài là thử thách, đau khổ và cái chết, Ngài không bao giờ sợ hãi lùi bước. Trong cuộc sống, chúng ta cũng dựa vào Chúa để cương quyết dấn bước, không sợ hãi, không lùi bước trước việc thi hành ý muốn của Chúa.

Đứng trước đau khổ Ngài vẫn cương quyết vâng theo ý Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.” (Lc 22,42) Dù có đau khổ và thử thách chúng ta vẫn cứ vâng phục.

Vâng phục của thập giá là một sự vâng phục vô lý và điên rồ trước mắt người đời, nhưng đó lại là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. Khi chúng ta vâng phục chúng ta cũng đi vào trong con đường vô lý và điên rồ này, nhưng ta biết đó là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. (x.1Cr 1 và 2)

Ngài vâng phục cho đến chết : “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8) Như Chúa Kitô, vâng phục dẫn chúng ta vào một sự từ bỏ, một  cái chết, chết cho ý riêng,  cho lập trường, cho tham vọng muốn thống trị người khác…

4)     Chúa Giêsu bi cám dỗ  :

Ma quỷ không ngừng cám dỗ Chúa Giêsu chống lại ý Cha: Trong hoang địa, trong hành trình rao giảng, nhưng nhất là trên thập giá. Ngày nay chắc chắn ma quỷ không ngừng dùng mọi mưu mô để cám dỗ chúng ta sống bất tuân ý Chúa.

Phêrô, người môn đệ của Chúa, can ngăn Chúa khi nghe Thầy mình loan báo về cái chết :“Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,22-23) Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta bị chính anh em cản ngăn chúng ta làm theo ý Chúa, muốn lôi kéo chúng ta theo một kiểu sống khác không phù hợp với ý Chúa.

5)     Hiệu quả của sự vâng phục

Đem lại bình an:  Chúa Kitô vâng phục cho đến chết, vì thế Ngài đem lại bình an cho chúng ta: “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1,20) Ngài trở thành bình cho anh em mình: “Chính Người là bình an của chúng ta.” (Ep 2,14) Bình an của Chúa khác với bình an của thế gian : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.” (Ga 14,27)  Khi chúng ta vâng phục cho đến cùng, chúng ta trở thành người xây dựng bình an cho cộng đoàn. Chúng ta không mang lại bình an cho công đoàn theo kiểu của thế gian, nhưng theo kiểu của Chúa: vâng phục cho đến chết. 

Đem lại sự sống cho con người. Nếu chúng ta muốn cộng đoàn chúng ta sống, chúng ta cũng phải đi vào trong sự vâng phục của Ngài. Bất tuân đem lại sự chết cho mình và cho cộng đoàn, vâng phục đem lại sự sống cho mình và cho anh em : “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã ​vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người ​công chính.” (Rm 5,19)

 

3.      Một Thần Khí

Chúa Kitô chết để ban cho chúng ta Thần Khí của Ngài. Nếu Chúa Kitô không chết, Chúa Thánh Thần không được trút xuống: Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.”39 Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh.” (Ga 7,38-39) chỉ sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Ngài mới thổi hơi trên các tông đồ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22)

Có nhiều thứ thần khí, nhưng không phải thần khí nào cũng tin: “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy ​cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ​ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.” (1Ga 4,1) Làm sao chúng ta nhận ra đâu là thần khí thế gian và đâu là Thân Khí Thiên Chúa? Thánh Gioan nói với chúng ta : Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: “Thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không ​tuyên xưng Đức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Ki-tô.” (1Ga 4,2-3) Thần khí nào đẩy chúng ta đến với Chúa Kitô, sống theo sự vâng phục cho đến chết của Ngài, thì đó là Thần Khí Thiên Chúa.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà đầy dẫy những triết thuyết sai lạc. Vì vậy hãy hết sức cẩn thận. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Chúng ta sẽ không còn là những ​trẻ nhỏ, bị ​sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường” (Ep 4,14) Lúc nào đó có thể chúng ta đang sống theo tinh thần thế tục, ta sống trong cộng đoàn nhưng ta không sống theo tinh thần Chúa Kitô, không sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí. Khi ta “yêu thế gian thì ta ghét Thiên Chúa” (Gc 4,4)

Nhiều khi chúng ta sống theo xác thịt nên ta mất phương hướng. Thánh Phaolô nói: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8,5-6) Khi không có Thần Khí hướng dần ta sẽ đi vào con đường bất tuân, và mất phương hướng, mất bình an cho mình và cho cộng đoàn.

Sống theo Thần Khí thì ta sống trong Ánh Sáng, sống trong sự vâng phục; còn sống theo thế gian chúng ta đi trong bóng tối và không biết mình đi đâu, mất phương hướng: “Ai bước đi trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu.” (Ga 12,35)

Sống theo Thần Khí là sống trong sự thật: “Phần anh em, dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa. Nhưng vì ​dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự - mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá, thì theo như dầu ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Người. Vâng phục Thần Khí  luôn dần chúng ta đi vào trong sự thật.

III.            Hội Dòng, một ân huệ

Cộng đoàn tu sĩ trước tiên đó là một ân huệ của Thiên Chúa mà mỗi người phải trân trọng với tất cả sự chân thành của mình. Ta nói cộng đoàn là một ân huệ, bởi vì cộng đoàn đó không được tạo nên từ chúng ta, nhưng được tạo nên từ Thiên Chúa, từ thập giá của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Chúng ta giơ tay đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng biết ơn và trân trọng mà đặc tính là sống theo thánh ý Chúa qua bề trên và anh em . Khi sống thiếu sự vâng phục,  chúng ta coi thường ân huệ đó. Không thể đón lấy ân huệ đó cách ích kỷ và giả dối, trái lại phải đón lấy với tất cả lòng khiêm tốn, yêu mến và dấn thân trong tinh thần vâng phục cho ân huệ đó. Khi ta mở lòng ra đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng quý mến và chân thành thì chính ân huệ đó sẽ mang lại cho chúng ta sức mạnh, sự bình an đích thực. Trái lại nếu ta lắt léo, bất tuân và sống không thật với ân huệ đó thì chắc chắn rằng không bao giờ chúng ta gặp được hạnh phúc, bình an đích thực, không bao giờ có thể xây dựng cộng đoàn theo đúng ý Thiên Chúa. Chúng ta đón nhận ân huệ đó qua sự vâng phục thánh ý Chúa qua Bề trên và qua anh em để làm cho ân huệ đó phát triển.

IV.            Hôi Dòng,  Một sự hiệp thông

Cộng đoàn tu sĩ gồm những con người sống hiệp thông với nhau, với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Mẹ Maria và với các thánh, mà đặc tính là chân thành và cởi mở trong yêu thương. Không có chân thành yêu thương thì không thể nào có sự hiệp thông được. Hiệp thông trong sự vâng phục thánh ý Chúa và vâng phục nhau trong sự vâng phục của Chúa Kitô. Trong cộng đoàn mọi người chia sẻ với nhau, hiệp nhất với nhau, cùng chung vai sát cánh với nhau, theo kiểu thời các tín hữu ngày xưa : “Các tín hữu chuyên cần  nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.  Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.  Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến.  (Cv 2,42-47)

Không thể góp phần xây dựng nếu không có sự tuân phục đối với những quy luật mang lại sự hiệp thông. Mỗi người phải sống vâng phục luật Chúa và luật Hội Dòng.

Hiệp thông trong cầu nguyện. Thiếu một đời sống cầu nguyện trong các giờ kinh chung luôn là một thiếu sót lớn trong việc xây dựng cộng đoàn.

Hiệp thông trong các giờ chung: giờ cơm, giờ hội, giờ sinh hoạt…Vắng các giờ chung thường xuyên luôn là dấu hiệu không tốt trong sự vâng phục luật của Hội Dòng.  Và đó có thể là một trong những nguyên nhân gây lộn xộn cho cộng đoàn.

Có thể có những quan niệm cho rằng phải kiếm ra nhiều tiền cho Hội Dòng thì ta mới là người xây dựng Hội Dòng. Vật chất cần thiết, nhưng đó không phải là tất cả. Rất có thể Hội Dòng phát triển về vật chất nhưng lại sa sút về đời sống thiêng liêng và huynh đệ .

V.                Hội Dòng, Ngôi nhà Thiên Chúa

Cộng đoàn chính Nhà của Thiên Chúa, chúng ta không được biến thành hang trộm cướp: “Nhà Ta sẽ được gọi là ​nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành ​sào huyệt của bọn cướp.” (Mt21,13)  Cộng đoàn là đền thờ Thiên Chúa nơi Chúa ngự : “Nào ​anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vậy ai phá hủy Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và ​Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1Cr 3,16-17)  Mỗi người xây dựng làm sao để anh em có thể gặp Chúa và sống cầu nguyện được. Để được vậy phải để cho Thần Khí hướng dẫn, vâng theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.

VI.            Hội Dòng, Một môi trường sống

Cộng đoàn là môi trường sống, được  tạo nên do sự hiên diện của Thiên Chúa Ba Ngôi tình thương và của những người yêu nhau. Đó là nơi mà họ sẽ quay về thường xuyên để hít lấy nguồn khí sự sống, đồng thời họ sẽ cố gắng gìn giữ để cho môi trường sống thiêng liêng của họ được trong lành, không bị ô nhiễm bởi những kiểu sống trần tục… Lối sống trần tục, theo thánh Phaolô, là lối sống theo xác thịt : “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái.” (Gl 5,19-20) Đó là những lối sống không vâng theo luật Chúa,  những thứ này làm cho môi trường ra ô nhiễm, anh em không sống nổi, chúng phá vỡ cộng đoàn. Còn lối sống  đem lại xây dựng và bình an là lối sống theo Thần Khí: “Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, ​nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, ​tiết độ.” (Gl 5,22- 23) Những kiểu sống này tạo ra môi trường sống của cộng đoàn.

VII.         Hội Dòng, Một gia đình

Cộng đoàn tu trì là một gia đình trong đó có Thiên Chúa là Cha, có Chúa Giêsu là Anh Cả và tất cả chúng ta là anh anh em với nhau, mà đặc tính là chân thành, yêu thương và kính trọng và vâng phục lẫn nhau. Ở trong cộng đoàn tu sĩ, ta sẽ nhận ra một người Cha luôn yêu thương chúng ta cách chân thành, đó là Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu. Không có Người Cha này, cộng đoàn tu sĩ không có ý nghĩa gì cả. Đây là một gia đình không theo máu huyết, nhưng được sinh ra từ Thiên Chúa. “Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.” (Ga1,13) Trong gia đình này mỗi thành viên sống không dựa trên tình cảm tự nhiên tự nhiên, nhưng dựa trên đức tin và tình thương của gia đình Thiên Chúa. Gia đình này đòi chúng ta sống thật, sống cởi mở, sống hy sinh, lắng nghe và tuân phục lẫn nhau.

 

Trong gia đình này: 

 + Đức ái được đặt lên trên tất cả : “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả ​đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. ​Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. ​Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13, 1-7)

+ Mọi người sống hiệp nhất: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. ​Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. ​Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4,4-5)

+ Có sự tôn trọng lẫn nhau: có cha có con, có anh có em. Thương nhau như anh em ruột thịt, trong đó mỗi người sống tình bác, khiêm tốn và vâng phục: “Anh em hãy ​có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ​ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người ​đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.” ( Pl 2,3-4) Mỗi người sống đúng với tên của mình : Anh ra anh, em ra em.

+ Quan tâm cách đặc biệt đối với những kẻ yếu kém: “Những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả.” (1Cr 12,22-23)

+ Cùng chia vui sẻ buồn với nhau chứ không sống dửng dưng: “ Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15) và “Nếu một ​bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.” (Cr12,26)

VIII.      Hội Dòng, Một trường học phụng sự Chúa

Cộng đoàn là nơi người ta học, nhưng không học theo kiểu con người, người ta học theo kiểu của Chúa Kitô, người ta để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và dạy dỗ mình ngang qua anh em  trong cộng đoàn. Đây là trường học yêu thương. Ở đây không dạy để lấy bằng cấp mà dạy yêu thương và mỗi người phải học cả đời. Mỗi người phải trở nên dễ dạy, trở nên con người vâng phục ngang qua bề trên và công đoàn. Không chấp nhận sự hướng dẫn của Chúa thánh Thần thì không thể vào trường học này; không vâng phục thì không thể bước vào Hội Dòng.  

      Chính cộng  đoàn đào tạo chúng ta. Trong trường học này chúng ta sẽ học : ra khỏi mình, học lắng nghe, học chết đi từng ngày với ý riêng, với đam mê, học chờ đợi, học chấp nhận khác biệt, những đóng góp ý kiến, học tha thứ, học sống cho cộng đoàn, cho Chúa …

IX.            Hội Dòng, một Sa mạc

Cũng như dân Israel, Cộng đoàn cũng là nơi mà mỗi người sẽ kinh qua những đau khổ và thử thách, cũng như những nỗi cô đơn và cám dỗ. Nhưng  cũng chính trong sa mạc của cộng đoàn mà mỗi người sẽ gặp được Thiên Chúa và sự nâng đỡ của anh em. Trong cộng đoàn mỗi người trải qua những thử thách, thử thách lớn nhất là sự vâng phục. Dân Israel đừng từng bất tuân, bất trung trong sa mạc, chúng ta cũng từng  sống bất tuân với Chúa. Nhưng cũng trong sa mạc của cộng đoàn, chúng ta gặp được bàn tay Chúa nâng chúng ta dậy.  Chính trong sa mạc cộng đoàn chúng ta cùng nắm tay anh em trong bàn tay Chúa để tiếp tục hành trình. Chúng ta có thể sa ngã, nhưng chúng ta có một Đấng không bao giờ sa ngã dù bị cám dỗ, đó chính là Đức Kitô. Ngài là điểm tựa cho cuộc đời chúng ta trong hành trình đức tin này.

X.                Hội Dòng, một quân đội

Bước vào Hội Dòng này chúng ta như thể bước vào trong một trại lính, ở đó chúng ta cùng nhau “chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những ​quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao.” (Ep 6,12) Ma quỷ không bao giờ tha cho chúng ta, vì ma quỷ, thù địch của chúng ta, “như ​sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1Pr 5,8) Thế gian và xác thịt không bao giờ tha cho chúng ta.

Ma quỷ không ngừng cám dỗ chúng ta sống bất tuân như xưa nó cám dỗ ông bà nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa. Để chiến đấu chống lại ma quỷ, chúng ta phải chiến đấu bằng đức tin: “Anh em hãy ​đứng vững trong đức tin mà chống cự;” (1Pr 5,9) bằng sự tuân phục: “Anh em hãy phục tùng Thiên Chúa. Hãy ​chống lại ma quỷ; chúng sẽ chạy xa anh em;” (Gc 4,7) bằng đời sống tĩnh thức và cầu nguyện: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ” (Mt 26,41)

Chúa Kitô đã có kình nghiệm này. Ngài đã chiến đấu và chiến thắng. Giờ đây tất cả chúng ta sát cánh bênh nhau chiến đấu dưới cờ vua Kitô.

XI.             Hội Dòng, một nhà thương,

Cộng đoàn là nơi gồm những người khỏe và những người ốm đau, về phần xác, về phần hồn. Và mỗi người phải sống sự chân thành của mình bằng cách chấp nhận những yếu đuối xác hồn của nhau: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô.” (Gl 6,2) Mỗi người vừa là bệnh nhân , vừa là y tá, bác sĩ. Mỗi người có những bệnh khác nhau, nhưng kiêu ngạo, bất tuân thường ai cũng mắc phải, không nhiều thì ít. Có nhiều phương thuốc để chữa trị: khuyên lơn, sửa dạy…, phương thuốc sau cùng là lời cầu nguyện.

 

Kết luận

Người tu sĩ vào nhà Dòng là để sống theo thánh ý Chúa. Họ không ngừng tìm kiếm thánh ý Chúa qua bề trên và anh em . Họ sẽ không sống cho mình, nhưng chỉ biết sống cho Chúa và cho anh em. Họ có thể làm những công việc tầm thường, nhưng lại với một tình yêu phi thường, họ sống theo ý Chúa chứ không theo ý mình. Ở đó họ không hơn thua, tranh giành, trái lại họ tìm kiếm sự khiêm nhường, họ lắng nghe. Ở đó họ sát cánh với anh em khi vui cũng như lúc buồn; ở đó họ cố gắng sống theo lời thánh Phalô: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người. Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán” (Rm12,14-19). Họ vào nhà Dòng là để phục vụ, sống khiêm nhường, yêu thương, tha thứ, chấp nhận yếu đuối xác hồn, giúp đỡ nhau, vâng phục lẫn nhau…. Cùng với anh em, họ góp phần xây dựng nhà Chúa, xây dựng Giáo Hội và xây dựng Hội Dòng, cũng như góp phần xây dựng cuộc sống xã hội bằng tình thương và bằng sự vâng phục trong đức tin.

No comments:

Post a Comment