Monday, June 29, 2026

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI DÒNG BẰNG ĐỜI SỐNG TUÂN PHỤC

 

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỘI DÒNG

BẰNG ĐỜI SỐNG TUÂN  PHỤC

 

Khi ta nói đến việc xây dựng và phát triển Hội Dòng, Ta phải xác tín ngay từ đầu Hội Dòng tu trì không phải là một tổ chức, một nhóm người không có gia đình sống chung với nhau, thích thì ở không thích thì thôi, nếu cần thì cãi nhau, rồi bỏ.  Hội Dòng cũng không phải là một nhà trọ, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi, miễn sao trả tiền sòng phẳng; cũng không phải là một xí nghiệp hay văn phòng làm việc, đến làm việc, lấy tiền lương là xong; không phải là nhà trường theo nghĩa đến đó học lấy bằng cấp hoặc đến đó dạy để lấy tiền tháng. Hội Dòng cũng không phải là chung cư ta mua ta ở,; cũng không phải là một khách sạn, mỗi người thuê một phòng, ở qua rồi đi, mặc dù mỗi người có thể có phòng riêng …..Thế thì Hội Dòng là gì?

I.                   Hội Dòng, Một Cộng đoàn đức tin

Thánh Augustinô nói: “ Đức tin là bước đầu của sự cứu độ con người, là nền tảng và cội rễ của  mọi sự công chính hóa” (De Trinitae, XIII, 7) Không có đức tin thì chúng ta chỉ sống và cư xử với nhau theo cách người đời, và điều đó gây biết bao nhiêu đổ vỡ cho cộng đoàn.

Thiên Chúa không ưa thích những ai đến với Ngài mà lại không có đức tin : “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” ( Dt 11,6)

Thánh Phaolô nói: “Hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14,23)

Không có đức tin thì không có phép lạ, không có ân sủng của Chúa : “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.” (Mt 13,58)

Chúa Giêsu nói: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8)

Kém lòng tin làm cho ta suy  sụp và cộng đoàn sụp đổ. Chuyện Phêrô đi trên mặt nước đến với Chúa (Mt 14,30-31)

Đức Phaxicô nói: “Khi ngọn lửa đức tin bị lụi tàn thì tất cả những ánh sáng khác bắt đầu lu mờ” (Lumen Fidei số 4)

Chúa Giêsu cầu nguyện để Phêrô và chúng ta không mất đức tin : “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22, 32). Điều chúng ta làm là củng cố đức tin cho mình và anh em mình.

 

Để xây dựng cộng đoàn mỗi người phải vận dụng đức tin, chứ không dựa vào những lý lẽ trần tục : “Mọi nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu đều phải đi qua việc đào sâu lòng trung thành với kho tàng đức tin được các Tông đồ truyền lại cho chúng ta. Một đức tin vững chắc là nền tảng của sự hiệp thông giữa chúng ta; đó là nền tảng của sự hiệp nhất Kitô giáo.” (Đức Bênêdictô XVI, Buổi tiếp kiến chung, 19.01.2011)

Tin vào Lời Chúa là thật : “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật.” (Ga 17,17) Lời Chúa, mệnh lệnh của Chúa, ý định của Ngài luôn chân thật. Nếu chúng ta muốn tìm kiếm thánh ý Ngài chúng ta phải tin rằng những gì đến từ Chúa là chân thật.

Tin Chúa ở với chúng ta, ở với Bề trên và ở với anh em, và đang nói với chúng ta qua họ. Nếu muốn vâng phục,  chúng ta cũng phải tin Chúa ở với Bề trên và ở với anh em. Chỉ với đức tin chúng ta mới có thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa qua bề trên và anh em.

Đức tin là một bước nhảy vọt từ tự nhiên sang siêu nhiên. Khi vâng phục trong đức tin, chúng ta luôn làm một sự nhảy vọt, một cuộc vượt qua thực sự.

Đôi lúc có chuyện này: có những người vô thần trong cộng đoàn.

 

II.               Hội Dòng, Một mầu nhiệm

Hội Dòng là một nhiệm vì ngoài những tổ chức bên ngoài, Hội Dòng còn được xây dựng và đâm rễ sâu trong mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Tất cả cộng đoàn của chúng ta không dựa vào những nguyên tắc nhân loại,  nhưng dựa vào Cộng Đoàn của Ba Ngôi để xây dựng cộng đoàn.  

Công Đồng Vaticano II khẳng định: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như "một dân tộc hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" ( LG số 4).

Tông Huấn Vita Consecrata số 41 nói: “ Đời sống huynh đệ nhằm phản ánh chiều sâu và sự phong phú của mầu nhiệm này (mầu nhiệm hiệp thông), bằng cách tạo ra một nơi cư ngụ cho Thiên Chúa Ba Ngôi giữa môi trường nhân loại, nhằm tiếp tục đưa vào lịch sử những ân huệ hiệp thông mà chỉ duy Ba Ngôi Thiên Chúa mới có

Văn Kiện Congregavit nos in umun Christi amor số 8 khẳng định: “ Không thể nào hiểu được cộng đoàn tu trì nếu chúng ta không bắt đầu từ bản chất của cộng đoàn như là một ân huệ trên cao ban xuống, như một mầu nhiệm, bắt nguồn từ chính trọng tâm mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chí thánh và là Đấng thánh hoá, Đấng hằng mong muốn cộng đoàn tu trì trở nên thành phần của mầu nhiệm Giáo Hội nhằm phục vụ đời sống con người.”

1.      Một Thiên Chúa

1)     Một Tình yêu

Lắng nghe và vâng phục Thiên Chúa trong yêu mến: yêu mến Thiên Chúa và yêu mến Cộng đoàn. Không có lòng yêu mến ta khó có thể xây dựng cộng đoàn bằng sự vâng phục. Mệnh lệnh của Chúa: “Ngươi phải ​yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ​ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39)

 Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì mệnh lệnh của Ngài trở nên nhẹ nhàng. Ngược lại nó sẽ trở nên nặng nề : “Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu” (1Ga 5,3) Yêu mến sẽ nghe rõ, và thích nghe. Ngược lại, không yêu mến sẽ không bao giờ nghe rõ. Nếu ta yêu mến anh em ta sẽ nghe rõ và thích nghe. Lúc bấy giờ vâng phục trở nên nhẹ nhàng.

 Khi vâng phục vì yêu mến, chúng ta không còn vì sợ hãi nữa. Thánh Gioan nói: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.” (1Ga 4,18)

2)     Một Thánh Ý

Tất cả chúng ta cùng đi tìm thánh ý Chúa trong việc xây dựng cộng đoàn. Bề trên và bề dưới không ngừng tìm kiếm ý Thiên Chúa. Cả hai cùng gặp nhau ở ý Chúa.

Tìm kiếm và sống theo ý Thiên Chúa: “Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con.” (Tv 40,9) và “Điều đẹp ý Ngài, xin dạy con thực hiện, bởi Ngài là Thiên Chúa của con.” (Tv 143,10)

Muốn nhận ra ý Thiên Chúa ta phải thay đổi : “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12,2)

Chúa muốn chúng ta làm cái gì, chứ không phải ta muốn làm cái gì: “Anh em đừng hóa ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5,17)

Cầu nguyện cho nhau để chúng ta tìm ra ý Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh em được ​am tường thánh ý Người” (Cl 1,9)

Cầu nguyện và xin Chúa cho dấu chỉ, nếu thành tâm Chúa sẽ cho, ví dụ ông Ghít-ôn (Tl 6,36-40)

Lắng nghe và vâng phục thánh ý Chúa thì được Chúa chúc phúc. Chúa gọi Abraham (x. St 12…). Ông nhận ra ý Chúa và ra đi trong thử thách của  đức tin, vì thế ông được chúc phúc : “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân ​giáng phúc cho ngươi” (St 22,16-17)

Không lắng nghe và bất tuân luôn để lại hậu quả cho mình và cho anh em. Ông Adam và bà Eva bất tuân nên để lại hậu quả. Tháp Babel biểu tượng cho sự kiêu ngạo và bất tuân, hậu quả là không hiểu nhau và sụp đổ (x. St 11, 1-9). Bà Lót không nghe lời Chúa trở thành tượng muối.(St 19,26) Ông Saul mất tất cả vì không vâng lời Chúa: không tuân lệnh Chúa qua ngôn sứ, tự ý dâng lễ và tha cho vua Amalek (1Sm 13 và 15)

Chúa không quan tâm đến chúng ta làm chuyện này chuyện nọ, nghi thức này nghi thức kia, Chúa chỉ cần nơi chúng ta một điều , đó là sự vâng phục: “Vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ ​cừu” (1Sm15,22)

Xây dựng cộng đoàn trên Lời Chúa, trên thánh ý của Ngài: “Vậy ai ​nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai ​nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại ​xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, ​nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành.” (Mt 7, 24-27)

Lắng nghe và vâng phục thánh ý Chúa không thể được, nếu chúng ta không cầu nguyện và không có lòng yêu mến Chúa: “Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh em được ​am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và ​hiểu biết mà Thần Khí ban cho.” (Cl 1,19) Chúa Giêsu cầu nguyện suốt đêm: “Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.” (Lc 6, 12-13)

Có khi ta nghe tiếng Chúa nhưng không chịu làm theo, Chúa tìm mọi cách để chúng ta thi hành sứ vụ, như Giona chẳng hạn: Chúa bảo ông đi đến Ninivê để kêu gọi dân sám hối, ông lại xuống tàu đi Tarsit, tránh Nhan Đức Chúa… (x. Gn 1,2-16)

Có khi lúc đầu ta không muốn làm theo ý Chúa, nhưng sau suy nghĩ lại ta lại làm (x. Mt 21,28-32)

Có khi chúng ta chạy theo thế gian mà không chịu lắng nghe tiếng Chúa. Chúa phải la to để phá tan sự điếc lác của chúng ta (thánh Augustino, Tự Thuật)

2.      Một Đức Kitô:

 

1)     Đức Kitô, Nền tảng cho sự vâng phục của chúng ta

Chúa Kitô không chỉ là gương mẫu mà là nền tảng cho việc xây dựng cộng đoàn trong sự vâng phục. Tôi và Chúa Kitô nên một với nhau: “Tôi sống không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20) Chúng ta không thể làm gì được, không thể vâng phục thánh ý Chúa nếu như chúng ta không có Chúa Kitô.

Chỉ có một Đức Kitô mà chúng ta dựa vào, không có Đức Kitô khác: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng ​trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã ​tự hiến làm giá chuộc mọi người.” (1Tm 2,5-6)

Ngài hằng lắng nghe và vâng phục Chúa Cha : “Lương thực của Thầy là ​thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và ​hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34) . Trong Ngài chúng ta lắng nghe và vâng phục thánh ý Cha. Cả cuộc đời chúng ta là lắng nghe và vâng phục nếu ta muốn xây dựng cộng đoàn.

Ngài đến để làm theo ý cha: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để ​làm theo ý Đấng đã sai tôi.” (Ga 6,38) Cả cuộc đời của chúng ta là thi hành ý của Thiên Chúa như Chúa Kitô như Chúa Kitô. Chúng ta được gọi và sai đi để sống cho thánh ý Cha.

Ngài vâng phục vì yêu mến Cha: “Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy.”(Ga 14,31) Chúng ta vâng phục vì yêu mến Cha và cộng đoàn.

Sự vâng phục làm cho Ngài trở nên con người có tự do. Chúng ta cũng vậy,  khi chúng ta vâng phục chúng ta được giải thoát, trở thành một con người tự do.

Vâng phục nơi Chúa Kitô là một sự gặp gỡ giữa Ngài và Cha. Trong Chúa Kitô khi tôi vâng phục tôi cũng đi vào trong sự gặp gỡ Cha và gặp gỡ anh em.

2)     Đức Kitô, một Sự Khiêm Nhường cho chúng ta

Khiêm nhường của Chúa Kitô không phải khiêm nhường của kẻ nhu nhược, mà là của Đấng yêu mến Cha. Càng yêu càng khiêm nhường. Chúng ta chỉ có thể vâng phục thực sự khi chúng ta có sự khi khiêm nhường của Chúa Kitô, khiêm nhường của tình yêu. Lúc đó khiêm nhường sẽ đánh tan mọi thành kiến, đố kỵ, ghen ghét, … để có thể sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Chỉ trong Chúa Kitô ta mới có thể sống vâng phục trong sự khiêm nhường

3)     Thập giá, tột đỉnh của sự vâng phục:

Đứng trước cái chết Ngài vẫn cương quyết lên Giêrusalem để thi hành ý Cha: “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9,51) Trước mắt Ngài là thử thách, đau khổ và cái chết, Ngài không bao giờ sợ hãi lùi bước. Trong cuộc sống, chúng ta cũng dựa vào Chúa để cương quyết dấn bước, không sợ hãi, không lùi bước trước việc thi hành ý muốn của Chúa.

Đứng trước đau khổ Ngài vẫn cương quyết vâng theo ý Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha.” (Lc 22,42) Dù có đau khổ và thử thách chúng ta vẫn cứ vâng phục.

Vâng phục của thập giá là một sự vâng phục vô lý và điên rồ trước mắt người đời, nhưng đó lại là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. Khi chúng ta vâng phục chúng ta cũng đi vào trong con đường vô lý và điên rồ này, nhưng ta biết đó là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. (x.1Cr 1 và 2)

Ngài vâng phục cho đến chết : “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8) Như Chúa Kitô, vâng phục dẫn chúng ta vào một sự từ bỏ, một  cái chết, chết cho ý riêng,  cho lập trường, cho tham vọng muốn thống trị người khác…

4)     Chúa Giêsu bi cám dỗ  :

Ma quỷ không ngừng cám dỗ Chúa Giêsu chống lại ý Cha: Trong hoang địa, trong hành trình rao giảng, nhưng nhất là trên thập giá. Ngày nay chắc chắn ma quỷ không ngừng dùng mọi mưu mô để cám dỗ chúng ta sống bất tuân ý Chúa.

Phêrô, người môn đệ của Chúa, can ngăn Chúa khi nghe Thầy mình loan báo về cái chết :“Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,22-23) Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta bị chính anh em cản ngăn chúng ta làm theo ý Chúa, muốn lôi kéo chúng ta theo một kiểu sống khác không phù hợp với ý Chúa.

5)     Hiệu quả của sự vâng phục

Đem lại bình an:  Chúa Kitô vâng phục cho đến chết, vì thế Ngài đem lại bình an cho chúng ta: “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1,20) Ngài trở thành bình cho anh em mình: “Chính Người là bình an của chúng ta.” (Ep 2,14) Bình an của Chúa khác với bình an của thế gian : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.” (Ga 14,27)  Khi chúng ta vâng phục cho đến cùng, chúng ta trở thành người xây dựng bình an cho cộng đoàn. Chúng ta không mang lại bình an cho công đoàn theo kiểu của thế gian, nhưng theo kiểu của Chúa: vâng phục cho đến chết. 

Đem lại sự sống cho con người. Nếu chúng ta muốn cộng đoàn chúng ta sống, chúng ta cũng phải đi vào trong sự vâng phục của Ngài. Bất tuân đem lại sự chết cho mình và cho cộng đoàn, vâng phục đem lại sự sống cho mình và cho anh em : “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã ​vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người ​công chính.” (Rm 5,19)

 

3.      Một Thần Khí

Chúa Kitô chết để ban cho chúng ta Thần Khí của Ngài. Nếu Chúa Kitô không chết, Chúa Thánh Thần không được trút xuống: Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.”39 Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh.” (Ga 7,38-39) chỉ sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Ngài mới thổi hơi trên các tông đồ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22)

Có nhiều thứ thần khí, nhưng không phải thần khí nào cũng tin: “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy ​cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ​ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.” (1Ga 4,1) Làm sao chúng ta nhận ra đâu là thần khí thế gian và đâu là Thân Khí Thiên Chúa? Thánh Gioan nói với chúng ta : Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: “Thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không ​tuyên xưng Đức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Ki-tô.” (1Ga 4,2-3) Thần khí nào đẩy chúng ta đến với Chúa Kitô, sống theo sự vâng phục cho đến chết của Ngài, thì đó là Thần Khí Thiên Chúa.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà đầy dẫy những triết thuyết sai lạc. Vì vậy hãy hết sức cẩn thận. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Chúng ta sẽ không còn là những ​trẻ nhỏ, bị ​sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường” (Ep 4,14) Lúc nào đó có thể chúng ta đang sống theo tinh thần thế tục, ta sống trong cộng đoàn nhưng ta không sống theo tinh thần Chúa Kitô, không sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí. Khi ta “yêu thế gian thì ta ghét Thiên Chúa” (Gc 4,4)

Nhiều khi chúng ta sống theo xác thịt nên ta mất phương hướng. Thánh Phaolô nói: “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.” (Rm 8,5-6) Khi không có Thần Khí hướng dần ta sẽ đi vào con đường bất tuân, và mất phương hướng, mất bình an cho mình và cho cộng đoàn.

Sống theo Thần Khí thì ta sống trong Ánh Sáng, sống trong sự vâng phục; còn sống theo thế gian chúng ta đi trong bóng tối và không biết mình đi đâu, mất phương hướng: “Ai bước đi trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu.” (Ga 12,35)

Sống theo Thần Khí là sống trong sự thật: “Phần anh em, dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa. Nhưng vì ​dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự - mà dầu ấy dạy sự thật chứ không phải sự dối trá, thì theo như dầu ấy đã dạy anh em, anh em hãy ở lại trong Người. Vâng phục Thần Khí  luôn dần chúng ta đi vào trong sự thật.

III.            Hội Dòng, một ân huệ

Cộng đoàn tu sĩ trước tiên đó là một ân huệ của Thiên Chúa mà mỗi người phải trân trọng với tất cả sự chân thành của mình. Ta nói cộng đoàn là một ân huệ, bởi vì cộng đoàn đó không được tạo nên từ chúng ta, nhưng được tạo nên từ Thiên Chúa, từ thập giá của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Chúng ta giơ tay đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng biết ơn và trân trọng mà đặc tính là sống theo thánh ý Chúa qua bề trên và anh em . Khi sống thiếu sự vâng phục,  chúng ta coi thường ân huệ đó. Không thể đón lấy ân huệ đó cách ích kỷ và giả dối, trái lại phải đón lấy với tất cả lòng khiêm tốn, yêu mến và dấn thân trong tinh thần vâng phục cho ân huệ đó. Khi ta mở lòng ra đón nhận ân huệ đó với tất cả lòng quý mến và chân thành thì chính ân huệ đó sẽ mang lại cho chúng ta sức mạnh, sự bình an đích thực. Trái lại nếu ta lắt léo, bất tuân và sống không thật với ân huệ đó thì chắc chắn rằng không bao giờ chúng ta gặp được hạnh phúc, bình an đích thực, không bao giờ có thể xây dựng cộng đoàn theo đúng ý Thiên Chúa. Chúng ta đón nhận ân huệ đó qua sự vâng phục thánh ý Chúa qua Bề trên và qua anh em để làm cho ân huệ đó phát triển.

IV.            Hôi Dòng,  Một sự hiệp thông

Cộng đoàn tu sĩ gồm những con người sống hiệp thông với nhau, với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Mẹ Maria và với các thánh, mà đặc tính là chân thành và cởi mở trong yêu thương. Không có chân thành yêu thương thì không thể nào có sự hiệp thông được. Hiệp thông trong sự vâng phục thánh ý Chúa và vâng phục nhau trong sự vâng phục của Chúa Kitô. Trong cộng đoàn mọi người chia sẻ với nhau, hiệp nhất với nhau, cùng chung vai sát cánh với nhau, theo kiểu thời các tín hữu ngày xưa : “Các tín hữu chuyên cần  nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.  Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.  Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến.  (Cv 2,42-47)

Không thể góp phần xây dựng nếu không có sự tuân phục đối với những quy luật mang lại sự hiệp thông. Mỗi người phải sống vâng phục luật Chúa và luật Hội Dòng.

Hiệp thông trong cầu nguyện. Thiếu một đời sống cầu nguyện trong các giờ kinh chung luôn là một thiếu sót lớn trong việc xây dựng cộng đoàn.

Hiệp thông trong các giờ chung: giờ cơm, giờ hội, giờ sinh hoạt…Vắng các giờ chung thường xuyên luôn là dấu hiệu không tốt trong sự vâng phục luật của Hội Dòng.  Và đó có thể là một trong những nguyên nhân gây lộn xộn cho cộng đoàn.

Có thể có những quan niệm cho rằng phải kiếm ra nhiều tiền cho Hội Dòng thì ta mới là người xây dựng Hội Dòng. Vật chất cần thiết, nhưng đó không phải là tất cả. Rất có thể Hội Dòng phát triển về vật chất nhưng lại sa sút về đời sống thiêng liêng và huynh đệ .

V.                Hội Dòng, Ngôi nhà Thiên Chúa

Cộng đoàn chính Nhà của Thiên Chúa, chúng ta không được biến thành hang trộm cướp: “Nhà Ta sẽ được gọi là ​nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành ​sào huyệt của bọn cướp.” (Mt21,13)  Cộng đoàn là đền thờ Thiên Chúa nơi Chúa ngự : “Nào ​anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vậy ai phá hủy Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và ​Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1Cr 3,16-17)  Mỗi người xây dựng làm sao để anh em có thể gặp Chúa và sống cầu nguyện được. Để được vậy phải để cho Thần Khí hướng dẫn, vâng theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.

VI.            Hội Dòng, Một môi trường sống

Cộng đoàn là môi trường sống, được  tạo nên do sự hiên diện của Thiên Chúa Ba Ngôi tình thương và của những người yêu nhau. Đó là nơi mà họ sẽ quay về thường xuyên để hít lấy nguồn khí sự sống, đồng thời họ sẽ cố gắng gìn giữ để cho môi trường sống thiêng liêng của họ được trong lành, không bị ô nhiễm bởi những kiểu sống trần tục… Lối sống trần tục, theo thánh Phaolô, là lối sống theo xác thịt : “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái.” (Gl 5,19-20) Đó là những lối sống không vâng theo luật Chúa,  những thứ này làm cho môi trường ra ô nhiễm, anh em không sống nổi, chúng phá vỡ cộng đoàn. Còn lối sống  đem lại xây dựng và bình an là lối sống theo Thần Khí: “Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, ​nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, ​tiết độ.” (Gl 5,22- 23) Những kiểu sống này tạo ra môi trường sống của cộng đoàn.

VII.         Hội Dòng, Một gia đình

Cộng đoàn tu trì là một gia đình trong đó có Thiên Chúa là Cha, có Chúa Giêsu là Anh Cả và tất cả chúng ta là anh anh em với nhau, mà đặc tính là chân thành, yêu thương và kính trọng và vâng phục lẫn nhau. Ở trong cộng đoàn tu sĩ, ta sẽ nhận ra một người Cha luôn yêu thương chúng ta cách chân thành, đó là Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu. Không có Người Cha này, cộng đoàn tu sĩ không có ý nghĩa gì cả. Đây là một gia đình không theo máu huyết, nhưng được sinh ra từ Thiên Chúa. “Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.” (Ga1,13) Trong gia đình này mỗi thành viên sống không dựa trên tình cảm tự nhiên tự nhiên, nhưng dựa trên đức tin và tình thương của gia đình Thiên Chúa. Gia đình này đòi chúng ta sống thật, sống cởi mở, sống hy sinh, lắng nghe và tuân phục lẫn nhau.

 

Trong gia đình này: 

 + Đức ái được đặt lên trên tất cả : “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả ​đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. ​Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. ​Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13, 1-7)

+ Mọi người sống hiệp nhất: “Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. ​Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. ​Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4,4-5)

+ Có sự tôn trọng lẫn nhau: có cha có con, có anh có em. Thương nhau như anh em ruột thịt, trong đó mỗi người sống tình bác, khiêm tốn và vâng phục: “Anh em hãy ​có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ​ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người ​đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.” ( Pl 2,3-4) Mỗi người sống đúng với tên của mình : Anh ra anh, em ra em.

+ Quan tâm cách đặc biệt đối với những kẻ yếu kém: “Những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả.” (1Cr 12,22-23)

+ Cùng chia vui sẻ buồn với nhau chứ không sống dửng dưng: “ Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15) và “Nếu một ​bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.” (Cr12,26)

VIII.      Hội Dòng, Một trường học phụng sự Chúa

Cộng đoàn là nơi người ta học, nhưng không học theo kiểu con người, người ta học theo kiểu của Chúa Kitô, người ta để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn và dạy dỗ mình ngang qua anh em  trong cộng đoàn. Đây là trường học yêu thương. Ở đây không dạy để lấy bằng cấp mà dạy yêu thương và mỗi người phải học cả đời. Mỗi người phải trở nên dễ dạy, trở nên con người vâng phục ngang qua bề trên và công đoàn. Không chấp nhận sự hướng dẫn của Chúa thánh Thần thì không thể vào trường học này; không vâng phục thì không thể bước vào Hội Dòng.  

      Chính cộng  đoàn đào tạo chúng ta. Trong trường học này chúng ta sẽ học : ra khỏi mình, học lắng nghe, học chết đi từng ngày với ý riêng, với đam mê, học chờ đợi, học chấp nhận khác biệt, những đóng góp ý kiến, học tha thứ, học sống cho cộng đoàn, cho Chúa …

IX.            Hội Dòng, một Sa mạc

Cũng như dân Israel, Cộng đoàn cũng là nơi mà mỗi người sẽ kinh qua những đau khổ và thử thách, cũng như những nỗi cô đơn và cám dỗ. Nhưng  cũng chính trong sa mạc của cộng đoàn mà mỗi người sẽ gặp được Thiên Chúa và sự nâng đỡ của anh em. Trong cộng đoàn mỗi người trải qua những thử thách, thử thách lớn nhất là sự vâng phục. Dân Israel đừng từng bất tuân, bất trung trong sa mạc, chúng ta cũng từng  sống bất tuân với Chúa. Nhưng cũng trong sa mạc của cộng đoàn, chúng ta gặp được bàn tay Chúa nâng chúng ta dậy.  Chính trong sa mạc cộng đoàn chúng ta cùng nắm tay anh em trong bàn tay Chúa để tiếp tục hành trình. Chúng ta có thể sa ngã, nhưng chúng ta có một Đấng không bao giờ sa ngã dù bị cám dỗ, đó chính là Đức Kitô. Ngài là điểm tựa cho cuộc đời chúng ta trong hành trình đức tin này.

X.                Hội Dòng, một quân đội

Bước vào Hội Dòng này chúng ta như thể bước vào trong một trại lính, ở đó chúng ta cùng nhau “chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những ​quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao.” (Ep 6,12) Ma quỷ không bao giờ tha cho chúng ta, vì ma quỷ, thù địch của chúng ta, “như ​sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1Pr 5,8) Thế gian và xác thịt không bao giờ tha cho chúng ta.

Ma quỷ không ngừng cám dỗ chúng ta sống bất tuân như xưa nó cám dỗ ông bà nguyên tổ bất tuân lệnh Chúa. Để chiến đấu chống lại ma quỷ, chúng ta phải chiến đấu bằng đức tin: “Anh em hãy ​đứng vững trong đức tin mà chống cự;” (1Pr 5,9) bằng sự tuân phục: “Anh em hãy phục tùng Thiên Chúa. Hãy ​chống lại ma quỷ; chúng sẽ chạy xa anh em;” (Gc 4,7) bằng đời sống tĩnh thức và cầu nguyện: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ” (Mt 26,41)

Chúa Kitô đã có kình nghiệm này. Ngài đã chiến đấu và chiến thắng. Giờ đây tất cả chúng ta sát cánh bênh nhau chiến đấu dưới cờ vua Kitô.

XI.             Hội Dòng, một nhà thương,

Cộng đoàn là nơi gồm những người khỏe và những người ốm đau, về phần xác, về phần hồn. Và mỗi người phải sống sự chân thành của mình bằng cách chấp nhận những yếu đuối xác hồn của nhau: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô.” (Gl 6,2) Mỗi người vừa là bệnh nhân , vừa là y tá, bác sĩ. Mỗi người có những bệnh khác nhau, nhưng kiêu ngạo, bất tuân thường ai cũng mắc phải, không nhiều thì ít. Có nhiều phương thuốc để chữa trị: khuyên lơn, sửa dạy…, phương thuốc sau cùng là lời cầu nguyện.

 

Kết luận

Người tu sĩ vào nhà Dòng là để sống theo thánh ý Chúa. Họ không ngừng tìm kiếm thánh ý Chúa qua bề trên và anh em . Họ sẽ không sống cho mình, nhưng chỉ biết sống cho Chúa và cho anh em. Họ có thể làm những công việc tầm thường, nhưng lại với một tình yêu phi thường, họ sống theo ý Chúa chứ không theo ý mình. Ở đó họ không hơn thua, tranh giành, trái lại họ tìm kiếm sự khiêm nhường, họ lắng nghe. Ở đó họ sát cánh với anh em khi vui cũng như lúc buồn; ở đó họ cố gắng sống theo lời thánh Phalô: “Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người. Anh em thân mến, đừng tự mình báo oán” (Rm12,14-19). Họ vào nhà Dòng là để phục vụ, sống khiêm nhường, yêu thương, tha thứ, chấp nhận yếu đuối xác hồn, giúp đỡ nhau, vâng phục lẫn nhau…. Cùng với anh em, họ góp phần xây dựng nhà Chúa, xây dựng Giáo Hội và xây dựng Hội Dòng, cũng như góp phần xây dựng cuộc sống xã hội bằng tình thương và bằng sự vâng phục trong đức tin.

Wednesday, March 3, 2021

 

 


ĐỒNG HÀNH CÙNG GIỚI TRẺ

TRONG GIA ĐÌNH

 

   Đan sĩ Simon Hòa

 

Đan viện Thiên Bình

 

 

Dẫn nhập

Vào thời nào cũng có những thách đố cho tuổi trẻ. Tuy nhiên tuổi trẻ ngày nay phải đương đầu với  nhiều thách đố từ chính mình, từ xã hội, từ cuộc sống, từ công ăn việc làm, và học hành. Với những khát vọng mãnh liệt, cộng với những yếu đuối của tuổi trẻ không ít người đã rơi vào bế tắc thất vọng do những áp lực của xã hội, của gia đình và những thất bại trong cuộc đời. Từ đó nhiều bạn trẻ đâm ra ăn chơi nghiện ngập, và không ít trường hợp đã tự tử. Bên cạnh đó có những bạn trẻ vì ảnh hưởng xã hội đã đánh mất những giá trị gia đình, lơ là với đức tin mà họ đã thừa hưởng từ gia đình, nếu không nói là đánh mất đức tin. Đứng trước những tình cảnh như hiện nay, những người lớn, những bậc làm cha mẹ cảm thấy hoang mang lo lắng, từ đó hay quát mắng người trẻ hoặc bỏ rơi. Tuy nhiên càng la mắng ta càng đẩy người trẻ vào tình trạng sống ù lì. Vì vậy điều những người lớn cần làm là giáo dục họ, đồng hành với họ, hiểu họ, thông cảm với họ, chia sẻ với họ và hướng họ theo những giá trị tốt lành mà họ luôn khao khát.

Trong bài viết này chúng tôi cùng tìm hiểu về khao khát của người trẻ; những cám dỗ và thử thách của cuộc đời với những vấp ngã của tuổi trẻ; những lối sống buôn thả do ảnh hưởng xã hội, văn hóa và những chủ nghĩa. Chúng tôi cũng sẽ nói đến những sa sút về đao đức, về lòng hiếu thảo. Chúng tôi cũng sẽ bàn đến những khó khăn, những yếu đuối cần được gia đình nâng đỡ, giúp người trẻ quay trở lại với những giá trị văn hóa tốt đẹp đã được Kito giáo “rửa tội”, họ cần được thông cảm hơn là la mắng, cần được đưa trở lại với đức tin bằng những gương sáng. Chúng tôi sẽ dựa vào những tài liệu có giá trị, những văn kiện, những lời giáo huấn của Giáo Hội, nhất là Kinh Thánh để trình bày, với mục đích giúp các bạn trẻ ý thức hơn về lối sống của mình để có quyết định đúng đắn trước giá trị văn hóa đạo đức và đức tin của mình.

I.                   KHAO KHÁT CỦA TUỔI TRẺ

Con người sống là khao khát và ước mơ. Đó là nét đặc trưng của con người. Không thể sống mà không khao khát. Hết khao khát và hết ước mơ là chết. Chính điều đó đẩy con người sống và hành động để xây dựng cuộc đời của mình và xã hội một ngày một tốt đẹp hơn. Chính năng lực này thúc đẩy con người luôn khao khát: khao khát khám phá, khao khát hiểu biết, khao khát xây dựng gia đình, Giáo hội và xã hội.

            Tuổi trẻ là tuổi khao khát. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Nơi một số người trẻ, chúng ta nhận ra họ có một khát vọng về Thiên Chúa, mặc dù không phải là tất cả những phác hoạ về Thiên Chúa đã được mặc khải. Nơi những người trẻ khác, chúng ta có thể thoáng thấy một mơ ước về tình huynh đệ, một điều không phải là không quan trọng. Nhiều bạn trẻ có một khát vọng thực sự muốn phát triển các tài năng của mình để cống hiến điều gì đó cho đời. Nơi một số bạn trẻ khác, chúng ta lại thấy họ nhạy cảm đặc biệt với nghệ thuật, hay muốn sống hoà điệu với thiên nhiên. Nơi một số khác nữa, có thể đó là mối quan tâm lớn về truyền thông. Nơi nhiều người trong số họ, chúng ta gặp thấy một khát vọng sâu xa muốn sống đời mình cách khác biệt. Đó là những khởi điểm thật sự, những nguồn lực nội tại đang chờ đợi và sẵn sàng đón nhận một lời thúc đẩy, soi sáng và khích lệ.”[1]

Tuổi trẻ luôn mang nơi mình những khát vọng và ước mơ. Tuổi khao khát và ước mơ nhất chính là tuổi trẻ, bởi vì đó là tuổi đầy năng lực và sức sống nhất. Có khát vọng vật chất và có khát vọng tinh thần. Có khát vọng làm giàu về vật chất nhưng cũng có khát vọng làm giàu về trí thức. Có khát khao thỏa mãn dục vọng của mình, nhưng cũng có khát khao những giá trị khác, chẳng hạn:  khao khát tình yêu, khao khát sự hiểu biết, khao khát hòa bình, khao khát tự do, khao khát tương lai. Và đi xa hơn nữa là khát khao sự công chính, sự thánh thiện, khao khát chính Thiên Chúa. Thánh Augustinô là một trong những vị thánh sống khao khát này cách rõ nét nhất. Thánh nhân đã từng khao khát sự hiểu biết, khao khát khẳng định mình. Chính vì thế ngài đã lao mình vào đi tìm chân lý qua những trào lưu triết họ và ngài trở thành một nhà hùng biện. Chẳng những thế ngài còn sa ngã vào trào lưu Manikes, hoặc thả mình trong lối sống ăn chơi xác thịt. Tuy nhiên, những thứ đó không bao giờ làm ngài thỏa mãn. Trong cuốn Tự Thuật ngài đã nói: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (TT 1,I,1) Thánh nhân sau mười năm trở lại mới nói được câu đó, nghĩa là sau những kinh nghiệm sa ngã ngài mới thấy rằng chỉ có Thiên Chúa mới thỏa mãn được nỗi khao khát của mình. Khao khát đó Thiên Chúa đã đặt vào trong tâm khảm của con người. Nếu con người biết dùng năng lực đó đúng thì thật phúc cho con người. Chúa Giêsu nói: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính” (Mt5,6) Chỉ khát khao điều chính trực thì con người mới gặp được hạnh phúc.

II.                 NHỮNG CHỦ THUYẾT ẢNH HƯỞNG LÊN GIỚI TRẺ

Nếu  thánh Augustino chịu ảnh hưởng bởi những trao lưu triết học lúc bấy giờ và đã từng đi trật đường, thì với những khao khát trong mình, cùng với nỗi xao xuyến lo âu,  người trẻ ra đi. Tuy nhiên không ít những cám dỗ luôn tấn công họ, khiến họ có rất nhiều nguy cơ sa ngã, chạy theo những thuyết vô thần mà xa rời với giá trị của gia đinh và đức tin mình đã thừa hưởng từ gia đình và Giáo Hội, hoặc chạy theo những chủ nghĩa tương đối, những trào lưu hưởng thụ, những thử nghiệm tình ái... Đức Bênêđictô nói:“Biết bao nhiêu là chiều gió chủ nghĩa chúng ta đã từng biết đến trong mấy thập niên qua! Biết bao nhiêu là trào lưu ý hệ! Biết bao nhiêu là trường phái tư tưởng! Con tầu nhỏ bé mang các tư tưởng của nhiều Kitô hữu thường bị xô lấn bởi những cơn sóng này, hất từ cực đoan này sang cực đoan kia: từ chủ nghĩa Marxít đến chủ nghĩa tự do (liberalism), thậm chí đến chủ nghĩa duy tự do (libertarianism); từ chủ nghĩa tập thể (collectivism) đến chủ nghĩa cá nhân cực đoan (radical individualism); từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa tôn giáo mập mờ bí hiểm (vague religious mysticism); từ chủ nghĩa ngộ thức (agnosticism) đến chủ nghĩa hòa đồng (syncretism) v.v. Ngày nào cũng có những thứ giáo phái mới, khiến cho những lời của Thánh Phaolô nói trở thành sự thật về việc con người bị lừa đảo và cái tinh quái làm cho con người bị lầm lạc. Có một đức tin minh tường, theo Kinh Tin Kính của Giáo Hội, thường được gán cho là chủ nghĩa thủ cựu (fundamentalism). Khi chủ nghĩa tương đối (relativism), nói cách khác, khi để cho mình ‘bị xô đẩy theo chiều gió chủ nghĩa’ được cho là thái độ duy nhất thích hợp với thời đại tân tiến, thì đó là lúc cái độc đoán của chủ nghĩa tương đối được hình thành, một chủ nghĩa cho rằng không có gì là tuyệt đối và là một chủ nghĩa chỉ căn cứ vào duy bản thân kình và những gì nó ước muốn.”[2]

Ta có thể đưa ra đây vài cám dỗ mà giới trẻ phải đường đầu.

1.      Chủ nghĩa hiện sinh vô thần

Tuổi trẻ là tuổi khẳng định mình. Thế nhưng nếu việc khẳng định mình đến độ loại trừ người khác, không còn muốn lắng nghe người khác thì đó là chuyện không ổn. Nietzsche, một triết gia hiện sinh vô thần, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 ở Roecken, đã chủ trương con người hùng, siêu nhân. Ông đề cao ý chí hùng cường, đề cao tự do đến độ gạt Thiên Chúa ra ngoài và coi như Thiên Chúa đã chết (God is dead):  “Trước mặt Thiên Chúa! Trong khi mà vị Thiên Chúa ấy đã chết! Hỡi những người thượng đẳng, vị Thiên Chúa ấy đã là nỗi nguy hiểm lớn nhất của các ngươi"[3] Từ đó ông đề cao chí hùng cường của siêu nhân đó là “đặt mình làm trung tâm và làm quan điểm để nhìn xã hội.”[4] 

Triết lý của ông ảnh hưởng rất lớn trên giới trẻ ở thế kỷ hai mươi và còn kéo dài đến bây giờ. Ngày nay không ít những bạn trẻ đã chạy theo chủ nghĩa vô thần, đã “giết” Thiên Chúa cách nào đó. Họ không muốn đến nhà thờ, nếu có đến thì chỉ ngồi bên ngoài, vừa xem lễ vừa bấm điện thoại. Bên trong ta không biết nhưng bên ngoài xem ra Thiên Chúa không còn chỗ đứng trong cuộc đời họ, dường như họ không cần đến Thiên Chúa, hay Thiên Chúa làm vướng víu họ, ngăn cản họ sống tự do. Họ sẵn sàng trở thành bất hiếu khi cha mẹ bảo họ đi nhà thờ nhưng họ không đi, sau cùng họ bất hiếu với chính Thiên Chúa.

Về tương quan với  xã hội  và gia đình, họ chẳng muốn nghe ai. Họ coi mình như là “cái rốn” của vũ trụ. Họ cho mình biết mọi chuyện, giỏi hơn người khác. Họ khẳng định mình đến độ không muốn nghe cha mẹ, nếu không muốn nói là đôi khi họ cải lại, mắng chửi vô lễ với cha mẹ. Họ muốn sống tự do theo cách nghĩ của họ, muốn thoát ra khỏi những thứ mà họ cho là những ràng buộc của gia đình, của Giáo hội. Họ muốn làm siêu nhân, muốn trở thành người hùng. Nhưng càng muốn trở thành người hùng họ lại càng trở nên bất hiếu với các đấng sinh thành nên mình.

2.      Chủ Nghĩa duy vật

Tuổi trẻ đang đương đầu với một chủ thuyết chủ trương chỉ có vật chất, từ đó kéo theo chủ nghĩa vô thần. Mọi sự là vật chất, chẳng có thần thánh hay Chúa Mẹ nào cả. Và với chủ trương như thế họ chỉ chủ tâm tìm kiếm vật chất, sống là làm việc, hưởng thụ rồi lăn ra chết, không còn gì sau cuộc đời này nữa. Chủ thuyết này ảnh hưởng rất lớn đến giới trẻ, nhất là trong những đất nước duy vật. Họ chỉ còn kiếm tiền và không còn nghĩ gì đến Thiên Chúa, họ thích tiền hơn các giá trị nhân linh. Và điều này xảy ngay trong gia đình, họ bòn mót của cha mẹ, họ giành giật nhau từng đồng tiền, từng mảnh đất; họ sẵn sàng chửi cha mẹ, anh chị em chỉ vì một chút quyền lợi. Có trường hợp anh em từ nhau, đánh nhau và cả giết nhau chỉ vì cha mẹ không chia đất đồng điều. Vì đồng tiền mà biết bao nhiêu cuộc bạo hành xảy ra trong gia đình. Vì đồng tiền mà họ trở thành những đứa con bất hiếu. Họ tính toán với cha mẹ từng đồng xu, trong khi trước đó cha mẹ đã cho họ tất cả, không tính toán so đo với họ, đúng như câu ca dao, “mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.” Vì vậy có những ông bố bà mẹ thà đi ăn xin để sống qua ngày, hơn là sống lệ thuộc mấy đứa con.

3.      Chủ nghĩa hưởng thụ và khoái lạc

Tiếp nối chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa hưởng thụ và khoái lạc mà Giáo hội không ngừng lên án. Con người ta chỉ còn biết tìm mọi cách để hưởng thụ và đạt được những khoái lạc. Với chủ trương như thế nhiều bạn trẻ đã ăn chơi thâu đêm, suốt sáng trong những hộp đêm, quán bar, với những ma men của rượu bia, những thuốc lắc, ma túy, tình dục mà hậu quả là biết bao nhiêu thai nhi đã bị giết. Lối sống hưởng thụ làm cho con người chỉ biết sống ích kỷ, chỉ biết để ý đến khoái cảm của mình mà không nghĩ đến sự sống người khác, chỉ biết hành động mà không có trách nhiệm, không dám nhận lấy hậu quả do mình gây ra. Họ sống thử, quan hệ tình dục một cách dễ dàng, kèm theo đó là những phim ảnh đồi trụy tràn ngập khắp mạng truyền thông đã đẩy họ vào con đường tội lỗi.

Phá thai ở Việt Nam vào năm 2019 được xếp vào thứ 5 thế giới và thứ nhất vùng Đông-Nam Á . Tờ báo Nhân Dân Điện Tử, ngày 10-02-2019, đăng bài viết tựa đề Báo Động Nạn Phá Thai ở Người Trẻ, có đoạn viết: “Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), mỗi năm nước ta có khoảng 250 đến 300 nghìn ca nạo phá thai được báo cáo chính thức. Trong khi đó, theo số liệu của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, khoảng từ 20 đến 30% các ca phá thai là phụ nữ chưa kết hôn và từ 60 đến 70% là sinh viên, học sinh, chủ yếu ở độ tuổi từ 15 đến 19. Trong đó, khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. Con số này cho thấy, chúng ta đang là nước đứng thứ năm trên thế giới và đứng đầu khu vực Ðông - Nam Á về tình trạng nạo phá thai.”[5]

Bên cạnh đó vì tình dục mà các gia đình ngoại tình, gây đổ vỡ cho gia đình. Nhiều gia đình phải ly dị cũng chỉ vì một bên không đáp ứng được nhu cầu sinh lý. Vì tình dục mà người ta đánh mất những giá trị khác.

Nhiều bạn trẻ vì muốn sống theo trào lưu hưởng thụ đã bất chấp những lời khuyên của các bậc cha mẹ. Những lời giáo huấn, những lời nhắc nhủ của cha mẹ, họ bỏ ngoài tai. Họ chỉ muốn thỏa mãn những khát vọng xác thịt của họ, và rồi họ để lại hậu quả cho mình, cho gia đình và cho xã hội, chẳng hạn như mắc bệnh truyền nhiễm, HIV, … Và như thế cách nào đó họ là những người con bất hiếu.

4.      Chủ nghĩa tương đối

Trong tông huấn Evangelii Gaudium, Đức giáo hoàng Phanxicô viết: “Tiến trình tục hóa đã đẩy đức tin và Giáo Hội vào lãnh vực cá nhân riêng tư và thầm kín. Hơn nữa, với việc phủ nhận tất cả chiều kích siêu việt, nó tạo ra những sai lệch về mặt đạo đức, làm suy yếu ý nghĩa về tội cá nhân và xã hội, âm thầm đẩy mạnh chủ nghĩa tương đối, đưa đến việc mất định hướng nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn vị thành niên và tuổi trẻ, là nhóm người rất dễ bị chao đảo trước những thay đổi như thế.”[6]

Có cái tương đối và có cái tuyệt đối, Những gì là vật chất, thuộc thế tục là tương đối. Những giá trị thuộc về Thiên Chúa là vĩnh cửu, tuyệt đối. Thế nhưng con người tương đối hóa mọi sự: tình yêu, lòng trung thành, sự hy sinh, chữ hiếu và ngay cả Thiên Chúa. Khi người ta không còn cho cái gì là tuyệt đối, là vĩnh cửu, khi người ta gạt Thiên Chúa và đưa Ngài xuống hàng tương đối  thì lòng đạo đức bắt đầu xuống dốc, gia đình tan vỡ, giao ước tình yêu bị coi thường, khi đó người ta đã tục hóa những giá trị vĩnh cửu và tục hóa chính Thiên Chúa, biến Thiên Chúa không khác gì một sự vật chóng qua. 

Giới trẻ ngày nay, vô tình hay hữu ý, bị ảnh hưởng rất lớn bởi chủ nghĩa này. Họ coi mọi sự chỉ là tương đối, vì vậy họ lao vào sống thử, dễ dàng ly dị… Họ không coi trọng tình yêu vợ chồng, tình yêu với cha mẹ là những giá trị tuyệt đối. Từ đó họ cũng dễ dàng đi đến văn hóa loại bỏ, đôi lúc loại bỏ chính cha mẹ ruột của mình, bằng cách bỏ rơi các ngài. Họ coi chữ hiếu cũng chỉ là tương đối.

Đứng trước những chủ nghĩa như thế biết bao người trẻ đã sa ngã. Có người cố gắng chỗi dậy từ sa ngã; có người không thể nào chỗi dậy khi đã sa ngã. Họ rất mạnh mẽ nhưng cũng rất yếu đuối. Chính vì thế họ cần được gia đình hướng dẫn ngay từ nhỏ, cần được giáo dục phát triển toàn diện. Khi ra đời họ cần được chuẩn bị để đối phó với những khó khăn thử thách. Khi họ sa ngã, đi lạc lối họ cần được gia đình và Giáo Hội đón nhận và giúp đỡ để bắt đầu lại. Giới trẻ cần được đồng hành nâng đỡ, được hiểu và được thông cảm. Họ cần được đưa về lại với những giá trị truyền thống Việt Nam, những lời giáo huấn của giáo hội và nhất là Kinh Thánh để họ sống lại những giá trị trong đời sống gia đình. Những bậc cha mẹ và người lớn phải giúp họ để họ không bao giờ được thất vọng cho dù có yếu đuối như thế nào đi nữa. Họ cần được cho biết là không được thất vọng vì không bao giờ Chúa thất vọng về họ. Họ cần hiểu rằng Đấng thương họ nhất chính là Chúa Kitô, Đấng đã chết vì họ.

III.              ĐỒNG HÀNH CÙNG GIỚI TRẺ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Người trẻ luôn mang trong mình một khát vọng: niềm hy vọng với nỗi khát khao. Thế nhưng, với những khát vọng đó, nếu giới trẻ không được đồng hành, giáo dục, hướng dẫn, thông cảm, nâng đỡ, bao dung tha thứ, bằng tình yêu, bằng lời nói, bằng đời sống gương mẫu, nhất là bằng đời sống cầu nguyện của các bậc cha mẹ thì họ khó có thể thoát khỏi những lôi cuốn của những chủ nghĩa mà chúng ta vừa trình bày trên đây.

Đức Thánh Cha Phanxico nói: “Niềm hy vọng nói với chúng ta về một sự đói khát, một niềm khát khao có được sự viên mãn, cũng như ước ao có được một cuộc sống thành công; và do đó dẫn tới việc mong muốn chạm tới được những điều lớn lao hơn, mong muốn đạt tới được điều mà nó mở rộng con tim và mở mang tinh thần để đạt tới được những điều cao thượng, chẳng hạn như chân lý, sự thiện, vẻ đẹp, công lý và Tình Yêu. Nhưng điều đó mang đến cho mình một mối nguy hiểm. Nó đòi người ta phải sẵn sàng để không cho phép mình bị lôi cuốn bởi sự chạy trốn và bởi sự rầy rà, bởi những lời hứa hẹn sai quấy về một niềm hạnh phúc trống rỗng, một sự tiêu khiển tức thời và ích kỷ, một cuộc sống tầm thường và chỉ nghĩ đến cái tôi, nhưng chúng chỉ để lại trong con tim một nỗi sầu muộn và đắng cay. Không, niềm hy vọng thì gan dạ. Nó biết nhìn xa hơn những tiện nghi cá nhân, nhìn xa hơn những sự an toàn nhỏ nhoi và những sự bù trừ, mà sự bù trừ ấy sẽ làm cho đường chân trời bị hẹp lại; nhìn xa để mở ra những lý tưởng to lớn, mà chúng làm cho cuộc sống trở nên mỹ miều và xứng với nhân phẩm hơn.”[7]

1.      Đồng hành với giới trẻ trong việc giáo dục

Vì vậy giới trẻ cần được giáo dục để khát vọng của họ đi đúng đường. Giáo dục là bổn phận và là quyền lợi của cha mẹ. Trong Tông huấn hậu thượng Hội Đồng Giám Mục, AMORIS LAETITIA, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: ‘“Tôi cảm thấy thật quan trọng để nhắc lại rằng việc giáo dục toàn diện cho con cái là một ‘bổn phận hệ trọng nhất’ và đồng thời là một ‘quyền đệ nhất’ của cha mẹ. Vấn đề không chỉ là một trách nhiệm hay một gánh nặng, nhưng còn là một quyền thiết yếu và bất khả nhượng mà cha mẹ được mời gọi để bảo vệ và không ai có thể tước nó khỏi cha mẹ. Nhà nước cung ứng các chương trình giáo dục theo cách bổ trợ, nhằm hỗ trợ các cha mẹ trong chức năng không thể ủy thác này; cha mẹ có quyền tự do chọn lựa loại hình giáo dục – có phẩm chất tốt và tiếp cận được – mà họ muốn trao gửi cho con cái mình, theo những xác tín của họ. Trường học không thay thế cha mẹ, nhưng chỉ bổ sung. Đây là một nguyên tắc căn bản: ‘Bất cứ ai hợp tác vào tiến trình giáo dục phải hành động nhân danh các phụ huynh, với sự đồng thuận của họ và, trong mức độ nào đó, còn với sự ủy quyền của các phụ huynh’. Thế nhưng, ‘một kẽ nứt đã lộ ra giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình và học đường; khế ước giáo dục ngày nay đã bị phá vỡ; và như thế giao ước giáo dục giữa xã hội và gia đình đang lâm vào khủng hoảng.’ Thế nhưng tôi cảm thấy thật quan trọng để nhắc lại rằng việc giáo dục toàn diện cho con cái là một ‘bổn phận hệ trọng nhất’ và đồng thời là một ‘quyền đệ nhất’ của cha mẹ. Vấn đề không chỉ là một trách nhiệm hay một gánh nặng, nhưng còn là một quyền thiết yếu và bất khả nhượng mà cha mẹ được mời gọi để bảo vệ và không ai có thể tước nó khỏi cha mẹ. Nhà nước cung ứng các chương trình giáo dục theo cách bổ trợ, nhằm hỗ trợ các cha mẹ trong chức năng không thể ủy thác này; cha mẹ có quyền tự do chọn lựa loại hình giáo dục – có phẩm chất tốt và tiếp cận được – mà họ muốn trao gửi cho con cái mình, theo những xác tín của họ. Trường học không thay thế cha mẹ, nhưng chỉ bổ sung. Đây là một nguyên tắc căn bản: ‘Bất cứ ai hợp tác vào tiến trình giáo dục phải hành động nhân danh các phụ huynh, với sự đồng thuận của họ và, trong mức độ nào đó, còn với sự ủy quyền của các phụ huynh.’ Thế nhưng, ‘một kẽ nứt đã lộ ra giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình và học đường; khế ước giáo dục ngày nay đã bị phá vỡ; và như thế giao ước giáo dục giữa xã hội và gia đình đang lâm vào khủng hoảng.”’[8]

1)     Giáo dục và sống đức tin

Đức Bênêđictô XVI trong Tông Huấn Porta Fidei: Cánh cửa đức tin, đã nhắn nhủ: “Cần gia tăng suy tư về đức tin để giúp tất cả các tín hữu của Chúa Kitô ý thức hơn và củng cố lòng gắn bó với Tin Mừng, nhất là trong lúc có những thay đổi sâu xa mà nhân loại đang trải qua như hiện nay. Chúng ta sẽ có dịp tuyên xưng đức tin nơi Chúa Phục Sinh trong các nhà thờ chính tòa của chúng ta và các thánh đường trên toàn thế giới; trong các gia cư và gia đình chúng ta, để mỗi người mạnh mẽ cảm thấy nhu cầu cần biết rõ hơn về đức tin ngàn đời và thông truyền cho các thế hệ trẻ.”’[9]

Giáo dục đầu tiên là giáo dục đức tin cho con cái, tức là dạy cho con cái mình về Chúa, về Tin Mừng, về giáo lý của Hội Thánh công giáo. Cha mẹ phải dạy cho con biết kính sợ Chúa vì “lòng kính sợ Chúa là trường dạy khôn ngoan,”[10] và “những ai kính sợ Đức Chúa thì không ngang bướng bất tuân lời Người dạy.”[11] Khi không còn kính sợ Chúa nữa thì con người ta trở nên mê muội. Biết bao nhiêu người trẻ trở nên mê muội vì không biết biết Chúa, không kính sợ Chúa. Họ sống như không có Thiên Chúa, họ sa vào ăn chơi vì họ không thấy Thiên Chúa hoặc vì họ khinh thường Thiên Chúa. Cha mẹ cũng phải dạy cho con cái về lòng thương xót Chúa khi chúng sa ngã, vì “con người thì thương xót cận thân, còn Đức Chúa xót thương mọi phàm nhân.”[12]

Cha mẹ phải nói về Chúa ngay khi chúng còn nhỏ, ngay cả khi chúng còn nằm trong bụng. Những lời cha mẹ nói không bao giờ mất đi nơi đứa trẻ, nhưng nằm sâu trong vô thức. Nếu chúng ta cho nó nghe và tiếp xúc với những gì xấu thì lớn lên nó sẽ hành động theo những gì nó đã nạp trong vô thức. Nếu chúng ta cho nó tiếp xúc với lời Chúa, với những gì tốt lành thánh thiện và với Chúa, thì những điều đó sẽ hướng dẫn nó sau này. Ngày nay vì không ý thức đủ chuyện này hoặc vì hoàn cảnh cuộc sống, nhiều cha mẹ đã cho con tiếp xúc sớm với ti vi, với iphone, ipad, mạng internet, phim ảnh… mà cứ nghĩ là không sao, nhưng thực ra nó ảnh hưởng khủng khiếp trên nhân cách và đời sống thiêng liêng sau này của đứa trẻ. Vì vậy trẻ cần được giáo dục và bảo vệ ngay từ nhỏ.

Cha mẹ cần dâng con cho Chúa ngay từ tấm bé để Chúa gìn giữ nó. Bà Anna trong Cựu ước đã dâng con cho Chúa ngay từ khi còn trẻ: “Nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho Đức Chúa mọi ngày đời nó.”[13] Và quả thực bà đã giữ lời hứa sau khi cai sữa đứa trẻ là Samuen. Cậu ở trong nhà Đức Chúa, “càng lớn lên và đẹp lòng Đức Chúa, lẫn người ta.”[14] Nếu cha mẹ dâng con cho Chúa với một niềm tin phó thác cho Chúa chắc chắn Chúa sẽ gìn ngữ nó. Nhưng dâng cho Chúa không có nghĩa khoán trắng cho Ngài, trái lại cha mẹ cần cộng tác với Ngài, để cho Ngài hướng dẫn con cái qua lời nói và hành động của mình.

Gia đình là trường học đầu tiên, nơi đó tuổi trẻ phải được giáo dục về Chúa, được sống với Chúa qua các giờ kinh nguyện chung trong gia đình. Trong thư gởi các gia đình công giáo, đề ngày 20 tháng 11 năm 2016, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có nói: “Gia đình là ngôi nhà thờ phượng khi gia đình tràn ngập sự hiện diện của Chúa. Ngài sẽ bước vào ngôi nhà của anh chị em khi mọi người trong nhà cầu nguyện chung, lắng nghe Lời Chúa và mời Chúa đến thăm: ‘Này Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.’[15]  Do đó việc lập bàn thờ và cầu nguyện chung trong gia đình là điều rất quan trọng với gia đình Công giáo. Những giờ cầu nguyện chung liên kết mọi người trong Chúa, giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố gia đình, cùng nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và trở nên chứng nhân của Chúa giữa lòng đời.’”

Còn Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Cầu nguyện trong gia đình là một phương thế ưu việt để diễn tả và củng cố đức tin phục sinh. Gia đình có thể dành ít phút mỗi ngày để quy tụ với nhau trước nhan Thiên Chúa hằng sống, nói với Ngài về những lo lắng bận tâm, cầu xin với Ngài cho những nhu cầu của gia đình, cầu nguyện cho ai đang gặp khó khăn, xin Chúa giúp ta biết sống yêu thương, tạ ơn Ngài về sự sống và về bao ơn lành khác, cầu xin Đức Trinh Nữ che chở chúng ta dưới tà áo Mẹ. Với ít lời lẽ đơn sơ thôi, nhưng những phút giây cầu nguyện đó có thể mang lại điều tốt lành lớn lao cho gia đình. Những diễn tả khác nhau của lòng đạo đức bình dân là một kho tàng linh đạo cho nhiều gia đình. Hành trình cầu nguyện chung của gia đình đạt tới đỉnh điểm trong việc tham dự Thánh lễ”[16]

Nhờ cầu nguyện chung trong gia đình mà có nhiều vị thánh trẻ. Đức Thánh Cha Phanxicô liệt kê ra mười hai vị thánh trẻ[17]:

- Vào thế kỷ thứ ba, Thánh Sebastianô là một chỉ huy trẻ trong Lực lượng Cận vệ Hoàng đế. Người ta kể rằng đi đâu ngài cũng nói về Đức Kitô và tìm cách làm cho các đồng đội của mình theo đạo, đến mức ngài bị buộc phải chối bỏ đức tin. Vì bất tuân lệnh ấy, ngài phải hứng một trận mưa mũi tên, nhưng ngài vẫn sống sót và tiếp tục rao giảng về Đức Kitô mà không hề sợ hãi. Cuối cùng, họ đánh đòn ngài cho đến chết.

- Thánh Phanxicô Assisi là một người trẻ đầy mơ ước. Ngài nghe tiếng Chúa Giêsu mời gọi trở nên nghèo khó như Người và cải tổ Hội Thánh bằng chứng tá đời sống. Ngài đã hân hoan từ bỏ mọi sự, và nay trở thành vị thánh của tình huynh đệ phổ quát, người anh em của mọi người, ca ngợi Chúa vì công trình tạo dựng của Chúa. Thánh nhân qua đời năm 1226.

- Thánh Jeanne d’Arc sinh năm 1412, là một thiếu nữ nông dân. Dù tuổi đời còn trẻ, ngài đã chiến đấu bảo vệ nước Pháp chống kẻ ngoại xâm. Bị hiểu lầm về cách ứng xử và cách sống đức tin của mình, thánh nhân đã bị thiêu sống.

- Chân phước Anrê Phú Yên là một thanh niên Việt Nam sống vào thế kỷ 17. Ngài là một giáo lý viên và là trợ tá của các vị thừa sai. Ngài bị tống giam vì đức tin, và vì không chịu từ bỏ đức tin, ngài đã bị giết. Anrê chết trong lúc đang kêu Danh Thánh Giêsu.

- Cũng vào thế kỷ 17, Thánh Kateri Tekakwitha, một thiếu nữ thổ dân Bắc Mỹ, đã bị bách hại vì đức tin. Cô bỏ trốn bằng cách đi bộ hơn ba trăm kilômét trong một khu rừng rậm. Kateri đã dâng hiến mạng sống cho Thiên Chúa, và khi chết ngài thốt lên: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa!”

- Thánh Đaminh Saviô thì dâng mọi đau khổ của mình cho Đức Maria. Khi Thánh Gioan Bosco dạy ngài rằng nên thánh nghĩa là lúc nào cũng vui vẻ, ngài đã mở lòng ra với một niềm vui có sức lan toả. Saviô tìm cách gần gũi các bạn của ngài, những người bị bỏ rơi và bệnh tật nhiều nhất. Thánh nhân qua đời năm 1857, lúc 14 tuổi, khi ấy ngài reo lên: “Tôi đang nhìn thấy điều kỳ diệu biết bao!”

- Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu sinh năm 1873. Lúc 15 tuổi, ngài đã vượt qua nhiều khó khăn để được gia nhập tu viện Cát Minh. Têrêsa đã sống con đường bé nhỏ của lòng tín thác tuyệt đối vào tình yêu của Chúa, và muốn dùng đời sống cầu nguyện để làm cho ngọn lửa tình yêu đang linh hoạt Hội Thánh luôn bùng cháy.

- Chân phước Ceferino Namuncurá là một thanh niên người Argentina, con trai một thủ lãnh lớn của một bộ tộc bản địa. Ngài trở thành một chủng sinh Salêdiêng, rất tha thiết trở về bộ tộc của mình để đưa mọi người đến với Chúa Giêsu Kitô. Ceferino qua đời năm 1905.

- Chân phước Isidore Bakanja là một giáo dân người Congo làm chứng về đức tin. Ngài bị hành hạ một thời gian dài vì đã giới thiệu Kitô giáo cho các bạn trẻ khác. Isidore qua đời năm 1909 trong khi tha thứ cho kẻ hành hình mình.

- Chân phước Pier Giorgio Frassati, qua đời năm 1925, “là một thanh niên tràn đầy niềm vui có sức lan toả, niềm vui vượt qua nhiều khó khăn trong cuộc đời của ngài”. [22] Pier Giorgio nói rằng ngài muốn đáp lại tình yêu của Chúa Giêsu mà ngài lãnh nhận khi rước lễ, bằng cách đi thăm và giúp đỡ người nghèo.

- Chân phước Marcel Callo là một thanh niên người Pháp, qua đời năm 1945. Marcel bị giam trong một trại tập trung ở Áo, ở đó ngài đã củng cố đức tin cho các bạn tù, giữa môi trường lao động khổ sai.

- Chân phước trẻ Chiara Badano, qua đời năm 1990, “đã cảm nghiệm rằng đau khổ có thể được biến đổi nhờ tình yêu… Bí quyết để có an bình và vui tươi của Chiara là hoàn toàn tín thác nơi Chúa và đón nhận bệnh tật như một biểu lộ huyền nhiệm Ý Chúa để mưu ích cho cô và cho tất cả mọi người”.

Đặc biệt có một vị thánh trẻ mới được Giáo Hội nâng lên bậc chân phước, đó là thánh Carlo Acutis. Thánh nhân là một thiếu niên mười lăm tuổi, một chuyên viên vi tính, đã say mê Chúa Giêsu, đặc biệt Bí Tích Thánh Thể. Ngài đã từng nói: “Cố gắng tham gia Thánh lễ và rước Thánh Thể mỗi ngày. Hãy tìm kiếm Chúa, và bạn sẽ thấy được ý nghĩa của cuộc đời mình. Người môn đệ đích thực của Chúa Giê-su Ki-tô đó chính là người luôn tìm cách noi gương Ngài và làm theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự.”[18]

Các thánh là những bức gương sống động cho bạn trẻ ngày nay. Noi gương các thánh các bạn trẻ đừng sợ sống cho Chúa Giê su, nhưng hãy nghe lời thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Đừng sợ! Hãy mở ra, hãy mở cửa cho Chúa Kitô!”[19] Nếu giới trẻ biết mở lòng ra thì Chúa Giêsu sẽ vào tâm hồn họ, lúc đó họ sẽ sống trong Ngài, nhờ Ngài và với Ngài : “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.”[20] Giới trẻ đừng sợ dành thời giờ cho Chúa, qua các giờ kinh tối sáng, cách đặc biệt Thánh lễ Chúa Nhật. Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: “Chúng ta đừng bao giờ hối tiếc về việc đã dành tuổi trẻ của mình làm người tốt, khi mở lòng ra cho Chúa và sống một cách khác. Tất cả những điều ấy không hề lấy mất tuổi trẻ của chúng ta, nhưng lại làm cho tuổi trẻ mạnh mẽ và được đổi mới.”[21]Có Chúa họ sẽ không còn sợ hãi nữa vì chính Chúa sẽ nói: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”[22]

Rất tiếc ngày nay dường như việc đọc kinh gia đình bị sa sút, việc đi lễ cũng bị lơ là, vì thế mà lòng đạo cũng sa sút theo, nền luân lý trong gia đình xuống cấp, tương quan giữa con cái với cha mẹ, giữa cha mẹ với con cái trở nên nhạt nhẽo. Ta phải ghi nhận rằng việc gia đình thiếu quan tâm đến Chúa có thể do nhiều nguyên nhân: công việc, học hành, áp lực cuộc sống, mệt mỏi, … Tuy nhiên nếu gia đình nào muốn con cái tốt lành, thì gia đình đó phải siêng năng cầu nguyện và nhắc nhau cầu nguyện. Vì vậy cần khôi phục lại kinh nguyện trong gia đình, cần truyền cho nhau ý của Chúa qua Kinh Thánh. Tương quan với Chúa tốt thì tương quan với anh chị em, cha mẹ, ông bà cũng sẽ tốt. Tương quan với Chúa giảm thì tương quan với anh chị em, cha mẹ, ông bà  cũng giảm. Chữ hiếu, hay điều răn thứ tư đang bị vi phạm rất nhiều, bởi vì cha mẹ thiếu quan tâm đến đời sống thiêng liêng của con cái.

2)     Giáo dục về chữ hiếu

Bên cạnh giáo dục đức tin, đời sống thiêng liêng cho con cái, cha mẹ cũng còn phải giáo dục chữ hiếu cho con cái. Văn hóa Việt Nam đề cao chữ hiếu, nghĩa là quan tâm đặc biệt đến thái độ con cái phải có đối với ông bà cha mẹ, những người sinh thành ra mình. Hơn thế nữa đối với những người công giáo, còn có luật của Chúa là phải thảo kính cha mẹ. không được lấy bất cứ lý do nào để bỏ giới răn này: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử”[23] Cha mẹ phải thông hiểu luật Chúa về chuyện này để dạy cho con cái mình biết thảo hiếu với cha mẹ, cho chúng biết giá trị của những người cao tuổi. Kinh Thánh dạy nhiều về chữ hiếu, chẳng hạn: Con ơi, hãy săn sóc cha mẹ con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn con cũng  phải cảm thông, đừng cậy mình sung sức mà khinh dể người.” [24] Thánh Phaolô thì dạy:“Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”[25]

Ngày nay nhiều bạn trẻ coi thường cha mẹ, không nghe lời cha mẹ, khinh thường những người gia nua, thất học. Họ sẵn sàng cải lại hoặc cho những người lớn là quê mùa, là lỗi thời, trong khi họ không ý thức được rằng kinh nghiệm của người già là kho tàng quý giá vô cùng.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nói: “Cần phải nói đến bổn phận chăm sóc người cao tuổi, vốn là nét đẹp truyền thống trong văn hoá dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời đại quá đề cao thành công vật chất và hiệu năng sản xuất ngày nay, người ta có khuynh hướng coi người già như gánh nặng của xã hội và muốn loại ra bên lề. Chúng ta cần phải có cách nhìn tích cực hơn về vai trò của người cao tuổi. Thật vậy, người già là ký ức của lịch sử, sợi dây nối kết các thế hệ, người truyền lại kinh nghiệm và sự khôn ngoan cho con cháu. Vì thế, một gia đình không biết trân trọng người già thì gia đình đó đang trên đà suy thoái; ngược lại, gia đình tôn quý người cao tuổi là gia đình có tương lai bền vững.”[26]

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nói: “Người trẻ cũng được khuyên nhủ ‘hãy vâng phục những người lớn tuổi’ (1 Pr 5,5). Kinh Thánh luôn mời gọi kính trọng người già, vì người già có cả một kho tàng kinh nghiệm; họ đã nếm trải những thành công và thất bại, những niềm vui và sầu khổ của cuộc đời, những hy vọng và thất vọng; và trong cõi lặng của tâm hồn, họ lưu giữ nhiều câu chuyện có thể dạy chúng ta đừng phạm sai lầm hay để cho những ảo tưởng lôi cuốn. Đây là lời của một bậc cao niên khôn ngoan kêu gọi tôn trọng một số giới hạn và biết làm chủ mình đúng lúc: “Hãy khuyên các thanh niên giữ chừng mực trong mọi sự” (Tt 2,6). Thái độ sùng bái tuổi trẻ hoặc khinh rẻ người lớn tuổi hay người thuộc thế hệ khác đều không phải lẽ. Chúa Giêsu nói rằng người khôn ngoan có khả năng rút ra từ kho tàng của họ cả những điều mới lẫn điều cũ (x. Mt 13,52). Một người trẻ khôn ngoan mở ra với tương lai, nhưng luôn có thể rút tỉa được điều gì đó từ kinh nghiệm của người khác.”[27]

Về chuyện này Chúa Giêsu đã làm gương cho giới trẻ trước tiên. Ngài tuy là Con Thiên Chúa, nhưng đã vâng phục Mẹ Maria và Thánh Giuse: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài.”[28] Trước đó trong Cựu ước ta gặp thấy cô Rút, con dâu người Mô Áp của bà Naomi. Sau khi chồng chết, thay vì ở lại xứ sở mình để có thể đi bước nữa, nhưng không, cô đã đi theo mẹ chồng, với câu nói tuyệt vời cảm động: “Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.Mẹ chết ở đâu, con chết ở đó, và nơi đó con sẽ được chôn cất. Xin ĐỨC CHÚA phạt con thế này và thêm thế kia nữa, nếu con lìa xa mẹ mà không phải vì cái chết!”[29]

Vâng phục là một trong những hành động nói lên chữ hiếu. Cha mẹ sẽ đau khổ khi thấy lời nói của mình bị khinh thường, nhất là khi nhắc con sống tốt lành, đạo đức. Cha mẹ sẽ đau khổ khi bảo con đừng quậy phá, lo học hành, thế mà nó không nghe. Cha mẹ sẽ đau khổ khi nhìn thấy con mình sa vào nghiện ngập, ma túy, cờ bạc. Nhưng cha mẹ sẽ đau khổ nhất khi thấy con mất đức tin, không sống đạo, không đọc kinh, không đi nhà thờ; bảo con đi nhà thờ, nó không nghe, hoặc vâng vâng nhưng lại không đi, hoặc đi nhưng lại đứng ngoài, không vào nhà thờ. Cha mẹ sẽ đau khổ khi thấy con mình chạy theo các lạc thuyết, những chủ nghĩa chống lại với đức tin công giáo. Hiểu theo nghĩa đó thì thánh Augustinnô, trước khi trở lại, đã sống bất hiếu cách nào đó, khi gây đau khổ cho mẹ mình là thánh Monica. Thế nhưng thánh nhân đã quay trở lại, và đều đó làm cho thánh Monica vui mừng. Chữ hiếu đã được sống trở lại.

Bên cạnh những gương chữ hiếu trong kinh Thánh hoặc từ các thánh, ta cũng tìm thấy những gương về chữ hiếu trong cuộc sống của chúng ta. Có những bạn trẻ có thể không có đạo nhưng đã sống chữ hiếu cách tuyệt vời. Họ sống theo lương tâm, mà tiếng nói lương tâm sau cùng chính là tiếng nói của Chúa. Cách nào đó họ đã sống điều răn thứ tư cách cảm động.

Câu chuyện thứ nhất: “Những ngày tháng 10 năm 2015, người ta khó có thể nào quên được hình ảnh một cô bé mới chỉ có 9 tuổi ngược xuôi nơi hành lang bệnh viện Bạch Mai để lấy cơm, chăm sóc cho người cha của mình. Cô bé ấy tên là Tô Thị Bích Ngọc, đang học lớp 4, ở Ý Yên, Nam Định. Nhà có hai anh em, mẹ lại bị tâm thần, người anh đang học lớp 8 phải làm thêm ở chợ để lấy tiền đong gạo hàng ngày cho cả nhà. Còn em thì xin nghỉ học theo lên Hà Nội chăm sóc cha mình bị xơ gan, sỏi niệu quản. Mọi việc ông đều cần đến sự giúp đỡ của con gái mình. Ấy vậy nhưng lúc có thời gian, em lại mang sách ra hành lang ngồi đọc, em luôn hi vọng cha sớm khỏe mạnh, khát khao được quay trở lại trường học, tiếp tục ước mơ của mình.

 Câu chuyện thứ hai: Mới 13 tuổi đầu nhưng cô bé Trịnh Thị Lan đã là lao động chính, hằng ngày bươn chải kiếm tiền lo cho bà ngoại già yếu và người mẹ mắc bệnh tâm thần.Từ lúc chào đời Lan đã không biết mặt bố, cô bé cứ thế lớn lên trong trong ngôi nhà xập xệ, dột nát của bà ngoại ở thôn Toán Thọ, xã Thiệu Toán (huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa). Ngay từ những ngày đầu vào tiểu học, cô bé cứ hết giờ học ở trường là chạy về phụ giúp việc nhà, chăm sóc mẹ bệnh tâm thần.

Lên 10 tuổi, Lan đã quen với việc đồng áng, chịu thương chịu khó làm ruộng với gia đình bác trai (anh trai mẹ) để kiếm gạo ăn. Hết mùa cấy, mùa gặt lúa, người dân địa phương lại thấy Lan đi khắp làng trên xóm dưới hoặc đến xã khác để lượm ve chai bán lấy tiền dành dụm mua thuốc cho mẹ, bà ngoại lúc ốm đau.

Nhiều hôm đi học về không thấy mẹ ở nhà, biết là mẹ lại phát bệnh đi lang thang, Lan hớt hải chạy khắp làng tìm mẹ trong nước mắt lưng tròng. Giờ 13 tuổi, Lan đã là lao động chính trong gia đình, hằng ngày lo cho bà ngoại gần 90 tuổi và người mẹ bệnh tật từng bữa cơm, giấc ngủ.

Tuy cuộc sống nhọc nhằn nhưng Lan chưa bao giờ có ý định bỏ học.

Em tâm sự: “Tuổi thơ của em thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Những lúc vui buồn em đều không có bố, còn mẹ thì mắc bệnh tâm thần nên không thể tâm sự hay chia sẻ. Tương lai của em sẽ còn nhiều vất vả, nhưng em quyết tâm sẽ học xong đại học để sau này có điều kiện nuôi bà, nuôi mẹ lúc tuổi già...”[30]

Câu chuyện thứ 3: Ở đan viện Thiên Bình, cách đây mấy tháng có bà cụ trên chín mươi tuổi qua đời. Cuộc đời của bà không chồng không con, bà dành dụm được ít tiền mua mảnh đất, xây nhà trọ cho thuê gần đất đan viện để kiếm chút tiền sinh sống tuổi già. Nhưng rồi bà cũng hiến cho đan viện và xin được tá túc trong đan viện cho đến chết. Khi anh em hỏi bà sao bà không lấy chồng, bà trả lời vì thương mẹ già nên không dám đi lấy chồng, chờ mẹ mất rồi lấy chồng. Nhưng mẹ già mất thì bà cũng đã quá sáu mươi tuổi, thế là cứ ở vậy với một đời sống đạo đức. Chính vì chữ hiếu mà bà đã sống một cuộc đời không chồng không con.

Bên cạnh việc dạy dỗ con cái về chữ hiếu, cha mẹ còn phải làm gương sáng về chuyện này, vì “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy.” Giải thích câu tục ngữ này ông  PGS-TS Phạm Văn Tình nói: Câu “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy” muốn nói tới một sự tình ở đời: Những hành vi mà ai đó đã quen làm thì nó sẽ được lặp lại i xì ở chính con cái họ. Tất nhiên, sẽ có hành vi tốt và hành vi xấu. Nhưng câu này nghiêng về sự cảnh báo: Những hành vi xấu, không hay của người đời sẽ được vận ngay vào thế hệ con cái họ.

Thế hệ sau rất dễ nhiễm và bắt chước mọi thói quen, sở thích, hành vi của thế hệ trước. Thế hệ trước không ở đâu xa, chính là cha mẹ. Một người nào đó, ứng xử với cha mẹ không ra gì. Không những anh ta không cung phụng, cho cha mẹ ăn uống tử tế mà còn buông ra những lời cay nghiệt, nhiếc móc, hỗn hào. Lúc đó anh chưa thấy gì. Nhưng cứ đợi đấy, đến lượt con cái anh, chúng sẽ ứng xử hệt với anh như thế, có khi còn tệ hơn. Hậu quả không hay này đã được minh chứng bằng nhiều câu chuyện ngụ ngôn mà khi đọc, những người biết suy nghĩ đều rất thấm thía câu “Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.[31]

                  Cha mẹ sống làm sao, con cái bắt chước sống như vậy. Cha mẹ xử thế nào với ông bà thì con cái sẽ xử với mình như vậy. Cha mẹ yêu thương ông bà thì con cái yêu mến cha mẹ. Cha mẹ cho ông bà ăn tử tế thì con cái sẽ cho cha mẹ ăn tử tế. Cha mẹ cho ông bà ăn thừa thì con cái sẽ cho cha mẹ ăn thừa.

                  Viện Phụ Tađêô Phạm Quang Điện, vị sáng lập đan viện Thiên Bình, lúc còn sống thường hay kể câu chuyện sau đây để dạy chúng tôi phải biết sống hiếu thảo với cha mẹ: Hồi ở ngoài Bắc, những lúc đi học, ngài thường đi qua một trường học. Tình cờ ngài thấy một cô con gái hay con dâu gì đó dẫn một bà cụ ra góc trường, rồi giúi bà cụ xuống và nói: ngồi đây nè, nheo nhéo cả ngày không ai chịu nổi. Bẵng một thời gian ngài cũng đi ngang qua đó và thấy một cô gái trẻ dẫn một bà bị mù ra đúng góc trường đó, giúi xuống và nói: ngôi đây này, nheo nhéo cả ngày không ai chịu nổi. Hỏi ra thì bà mù sau là chính người phụ nữ đã dẫn mẹ mình ra góc trường và nói câu đó trước đây.

Bằng đời sống của mình cha mẹ dạy cho con cái mình về chữ hiếu. Thế nhưng đôi lúc chính con cái vô tình hay hữu ý lại dạy cho cha mẹ biết tầm quan trọng của chữ hiếu. Câu chuyện Chiếc Bát Gỗ sau đây minh họa phần nào điều này.

Một ông già gầy yếu phải dọn đến ở chung với con trai, con dâu và một đứa cháu nội lên 4 tuổi. Ông già hai tay run rẩy, mắt đã mờ, chân bước không vững. Cả gia đình ngồi ăn chung nơi bàn ăn. Nhưng người ông lớn tuổi với hai tay lụng cụng và đôi mắt kèm nhèm khiến cho việc ăn uống rất khó khăn. Những hạt đậu rớt từ muỗng xuống sàn nhà. Khi ông với tay lấy ly sữa thì sữa đổ tóe ra khăn bàn.

Người con trai và con dâu rất bực mình vì phải lau chùi dọn dẹp cho ông. Người con trai nói: "Chúng mình phải làm một cái gì để giải quyết vấn đề này. Anh chán ngấy cái vụ ông đánh đổ sữa, ăn uống nhồm nhoàm, và đánh đổ thức ăn trên sàn nhà." Sau đó hay vợ chồng bàn nhau đặt một cái bàn trong góc phòng. Ở đó, người ông phải ngồi ăn một mình trong khi cả gia đình ăn uống vui vẻ. Vì ông cụ đã đánh vỡ mấy cái đĩa, thức ăn của ông được bỏ vào một cái bát gỗ.

Khi cả gia đình liếc nhìn về phía ông cụ, đôi khi thấy ông chảy nước mắt khi phải ngồi một mình. Vậy mà, mỗi khi ông đánh rơi muỗng nĩa hay đánh đổ thức ăn, hai vợ chồng vẫn còn la rầy ông. Đứa cháu 4 tuổi quan sát mọi sự trong thinh lặng. Một tối kia, ngay trước bữa ăn, người cha thấy đứa con nghịch với mấy khúc gỗ vụn trên sàn. Anh ta dịu dàng hỏi: "Con đang làm gì vậy?" Đứa bé cũng trả lời dịu dàng không kém: "Ồ con đang làm một cái bát nhỏ cho ba và mẹ ăn khi con lớn lên." Nó cười và tiếp tục làm việc.

Những lời nói của đứa trẻ làm cho cặp vợ chồng sững sờ không nói nên lời. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi trên mặt họ. Dù không nói ra lời, cả hai đều hiểu phải làm cái gì.

Tối hôm ấy, người con trai, cầm tay bố và dịu dàng dắt ông cụ trở về bàn ăn của gia đình. Và trong suốt những ngày còn lại của cuộc đời ông cụ được ngồi ăn chung với gia đình. Và từ đó cả chồng lẫn vợ dường như không còn chú ý đến những lúc muỗng nĩa rơi, sữa bị đổ tràn hay khăn bàn bị dính bẩn.[32]

Tobia nhắn nhủ với con mình rằng: “Hãy thảo kính mẹ con và đừng bỏ rơi người bao lâu người còn sống. Con hãy ăn ở đẹp lòng người và đừng làm điều chi phiền lòng người cả. Này con, con phải nhớ rằng mẹ con đã trải qua bao nỗi ngặt nghèo vì con, khi con còn trong dạ mẹ. Khi người mất, con hãy chôn cất người ngay bên cạnh cha, trong cùng một phần mộ”[33]

 

3)     Giáo dục nhân bản

Ngày nay người ta thấy nhân bản xuống cấp nơi các bạn trẻ, chúng không còn lễ phép như trước đây, ăn nói một cách thoải mái, thiếu tôn trọng người lớn. Vì vậy, họ cần được giáo dục lại về nhân bản. Cha mẹ không nên coi thường chuyện này. Cha mẹ cần lưu ý đến lời ăn tiếng nói, tác phong, cách ăn mặc của con em mình, và chỉ dạy cho chúng ngay từ khi còn bé, vì “măng không uốn, uốn tre sao được.” Cần phải dạy cho con cái mình những đức tính xã hội như: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh.

“Nhân” là tình người, là lòng yêu thương hết mọi người, là không phê bình chỉ trích ai, không xét đoán ai, không kết án ai. Chúa Giêsu dạy: “tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta,”[34] nhưng hơn nữa “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi mình” [35]

“Lễ” là sống cho lễ phép, lễ độ, coi mọi người là anh chị em của mình với một lòng trong sạch và kính trọng. Thánh Phao lô nhắn nhủ Timôtê, người con tinh thần của Ngài: “Chớ gì đừng có ai coi thường anh vì anh còn trẻ. Trái lại anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về các cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch.”[36] Chỗ khác ngài khuyên: “Đừng nặng lời với cụ già, nhưng khi khuyên nhủ, hãy coi cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em, các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tấm lòng hoàn toàn trong sạch.”[37] Lễ là cách cư xử tốt đẹp, cách bày tỏ lòng kính trọng tha nhân, là cách sống lịch sự: biết chào hỏi khi gặp người lớn, biết kính trên nhường dưới.

“Nghĩa” là  việc phải, việc đúng, là đường lối cư xử theo lẽ phải, là nghĩa vụ, trách nhiệm. Sống theo chữ nghĩa là sống đúng, sống thật, không gian dối, sống có trách nhiệm. Chúa Giêsu dạy: “Có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không.”[38] Ngày nay sự dối trá lan tràn trong xã hội, trong học đường, trong gia đình. Bậc cha mẹ phải dạy cho con cái mình biết sống thật.

“Trí” là khôn ngoan, sáng suốt, thông hiểu, phán đoán chính xác. Người có trí là người biết nhìn sâu vào sự việc, nắm bắt vấn đề cách chính xác, cân nhắc vấn đề, quyết định đúng. Giới trẻ cần được giáo dục để có một sự hiểu biết về tri thức nhân loại, những giá trị của cuộc sống, nhất là về Chúa, về tình yêu, về lòng thương xót của Ngài, về ý muốn của Ngài qua Kinh Thánh, qua lương tâm…

“Tín” là tin cậy, đáng tin, giữ lời, chung thuỷ. Ngày nay ta thấy giới trẻ không quan tâm đến chữ tín, vì vậy mà có chuyện thất hứa trong tương quan giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau, giữa đồng nghiệp, giữa vợ chồng. Vì vậy mà sinh ra nhiều hậu quả, cách đặc biệt là ngoại tình, ly dị…. Vì vậy trẻ cần được giáo dục sống chữ tín này: nói là làm, hứa phải giữ, thề thì phải trung thành, phải chung thủy.

Ngoài ra cũng cần để ý đến “tứ đức”: Công, Dung, Ngôn, Hạnh. Bậc cha mẹ phải dạy cho con mình, nhất là nữ giới, biết làm việc(Công), biết giữ gìn sắc đẹp bên ngoài lẫn bên trong (Dung), biết ăn nói đoan trang lễ phép (Ngôn), biết giữ gìn tiết hạnh, đức hạnh (Hạnh). Dù cách sống có thay đổi theo thời đại, những điều đó vẫn có giá trị, và cần áp dụng một cách linh động, dựa trên nền tảng Kinh Thánh.  

 

4)     Giáo dục về giới tính

 

Phải nói là ngày nay hơn bao giờ hết giới trẻ phải đương đầu với những vấn đề liên quan đến tính dục. Phim ảnh đen tràn lan, nó đánh vào bản năng của con người, nhất là giới trẻ. Đức cha Đinh Đức Đạo viết: “Trong thời gian qua, con người thời đại vốn mang trong mình tính cách yếu đuối, giòn mỏng của bản tính nhân loại, lại phải đối đầu với sức mạnh vũ bão của cuộc cách  mạng tình dục, bắt đầu nhen nhúm tại Hoa Kỳ vào năm 1920 rồi bùng nổ tại các nước Âu Mỹ vào thập niên 60, và từ từ lan rộng ra khắp thế giới. Cuộc cách mạng tình dục cũng được gọi là cuộc giải phóng tình dục, vì nó tìm cách phá đổ các quy tắc truyền thống hướng dẫn đời sống trong các tương quan nam nữ và những quy luật liên quan đến tình dục. Do đó, từ những năm 1960, sách báo, phim ảnh khiêu dâm, trụy lạc được công khai bày bán và chuyển đi khắp nơi.”[39]

Thượng Hội Đồng Giám Mục nói: “Một số người trẻ càng ngày càng bị mê hoặc bởi những hành vi mạo hiểm như một phương tiện để khám phá chính mình, tìm kiếm những cảm xúc mạnh mẽ và được người khác công nhận. Ngoài các hiện tượng đã có từ lâu đời như biết sớm về tình dục, sống phóng đãng, chủ trương du lịch tình dục, tôn thờ thái quá khía cạnh thể lý, giờ đây chúng ta thấy sự lan tràn rộng rãi của những tài liệu khiêu dâm bằng điện toán và triển lãm thân xác trực tuyến. Những hiện tượng này, mà trong đó các thế hệ mới bị đặt vào, tạo thành một trở ngại cho sự trưởng thành trong sáng.  Chúng biểu lộ các động lực xã hội chưa từng có, là các động lực ảnh hưởng đến những kinh nghiệm và lựa chọn cá nhân, qua việc biến chúng thành lãnh thổ của một loại thuộc địa hoá về tư tưởng.” [40]

Trước hiện trạng như thế, gia đình và Giáo Hội nên đưa bạn trẻ về với những nguyên tắc luân lý của Giáo Hội, giúp giới trẻ biện phân và sử dụng tính dục cho đúng; đồng thời cũng cho họ thấy những hậu quả tiêu cực nếu chạy theo những văn hóa đồi trụy. Vì vậy, “các gia đình Kitô giáo và cộng đồng Hội Thánh tìm cách giúp cho những người trẻ khám phá ra rằng phái tính là một món quà tuyệt vời có trong mầu nhiệm, để sống các mối liên hệ theo luân lý của Tin Mừng.”[41]

Rất tiếc nhiều khi các bậc cha mẹ hoặc người lớn đã làm gương xấu về chuyện này. Họ xem phim đen, nói những lời tục tĩu, những lời nói đùa cợt về tình dục, họ ngoại tình,… Điều này ảnh hưởng rất lớn trên giới trẻ. Nhiều trẻ em biết quá sớm về dục do cha mẹ hoặc những người lớn. Vì vậy cha mẹ và những người có trách nhiệm cần tạo cho gia đình một môi trường sống lành mạnh, kiểm soát sách báo, điện thoại, máy tính…

 

2.      Đồng hành với giới trẻ

Sống trong thời đại này, với kinh nghiệm còn non nớt, giới trẻ không tránh được những thất bại, vấp ngã. Họ cần gia đình cùng đồng hành với họ, lúc thành công hay khi thất bại. Họ cần những người lớn, nhất là cha mẹ, những người có kinh nghiệm, cùng đồng hành với họ. Tuổi trẻ rất năng động nhưng cũng rất dễ buông xuôi, dễ rơi vào trầm cảm, cô đơn. Họ cần được sự nâng đỡ, đồng hành, lắng nghe, thông cảm và tha thứ.

Đức Thánh Cha Phanxi cô nói: Nơi người trẻ, cũng có những va vấp, những thất bại và những ký ức buồn thảm hằn sâu trong tâm hồn. Thường đó là “thương tích gây ra bởi những thất bại trong lịch sử của chính mình, bởi những ước muốn không thành, bởi những kỳ thị và những bất công phải chịu, hoặc vì không cảm thấy được yêu thương hay công nhận’. Hơn nữa, ‘có cả những thương tích tinh thần, đó là sức nặng của những lỗi lầm đã phạm, của mặc cảm tội lỗi sau khi phạm sai lầm’. Giữa những thập giá này mà người trẻ phải vác lấy, có Đức Giêsu ở đó để trao ban cho họ tình bạn, niềm an ủi và sự đồng hành có sức chữa lành của Người. Còn Hội Thánh muốn trở nên khí cụ của Đức Giêsu trên con đường này, con đường dẫn đến phục hồi nội tâm và bình an cho tâm hồn.”[42]

Cha mẹ không được rời xa giới trẻ, khi thấy chúng không làm theo ý Chúa, khi thấy chúng bê trể trong vấn đề đạo đức, đi nhà thờ…Cha mẹ không được bỏ rơi con cái ngay cả khi chúng muốn thoát ly khỏi gia đinh. Người lớn cũng không nên la mắng, chửi rủa con cái mình khi chúng yếu đuối sa ngã. Cha mẹ phải là người đi đầu trong việc thông cảm và tha thứ. Nếu không cha mẹ chính là những người tiếp tục đẩy con mình vào con đường xấu. Nếu cha mẹ xa lìa chúng, chúng sẽ đi tìm bạn chơi, mà bạn thì đâu phải lúc nào cũng là bạn tốt. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Ngày nay, người lớn chúng ta rơi vào nguy cơ dựng nên một bản liệt kê những vấp váp, những thất bại của người trẻ. Có lẽ một số người lại hoan nghênh vì chúng ta tỏ ra có tài trong việc tìm ra những điểm tiêu cực và nguy hiểm. Nhưng thái độ ấy dẫn đến hệ quả gì? Hệ quả là càng xa cách hơn, ít gần gũi hơn, ít hỗ trợ nhau hơn.”[43]

Bên cạnh cha mẹ, Giáo hội cũng không được rời xa giới trẻ. Họ cần sự nâng đỡ của Giáo Hội. Giáo hội ngang qua các mục tử phải bày tỏ sự gần gũi với giới trẻ, bằng sự quan tâm,  giáo dục, hướng dẫn, thông cảm. Giới trẻ sẽ phản ứng tiêu cực nếu các mục tử cũng phản ứng tiêu cực. Nếu các mục tử la mắng họ bằng những từ ngữ thiếu văn hóa thì họ cũng sẽ phản ứng lại bằng những lời nói tiêu cực. Nếu mục tử không chấp nhận họ thì họ cũng khó chấp nhận mục tử. Nếu mục tử làm mất thể diện họ cách nào đó, thì họ sẽ phản ứng  bằng cách hoặc nói xấu mục tử, hoặc bỏ nhà thờ. Đã từng có những bạn trẻ đã bỏ đi lễ lâu năm khi bị bạt tai hoặc bị la mắng giữa bạn bè.

Vì vậy,

1)     Đồng hành với giới trẻ trong sự thông cảm và tha thứ

Chủ đề mục vụ năm 2021 của giáo phận Xuân Lộc là: “Gia đình hãy trở nên mái ấm của lòng Chúa thương xót-Đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đinh.” Thiên Chúa là Đấng đầy xót thương, cho nên gia đinh phải làm cho khuôn mặt xót thương của Chúa được bày tỏ ra ngay chính trong gia đình của mình.

Trong tông sắc công bố Năm Thánh về Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxi cô nói: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa không phải là một ý tưởng trừu tượng, nhưng là một thực tại cụ thể, nhờ đó, Ngài mạc khải Tình Yêu của Ngài như là Tình Yêu của một người cha và của một người mẹ mà con cái của họ nằm sâu trong con tim của họ. Đó thực sự là một Tình Yêu mãnh liệt. Tình Yêu ấy đến từ tận nơi sâu kín nhất và thẳm sâu nhất, nhưng tất nhiên là được thúc đẩy bởi sự trìu mến và bởi sự cảm thông, bởi lòng khoan nhân và bởi sự tha thứ.”[44] Thiên Chúa luôn tha thứ cho chúng ta, và, nói như Đức Phanxicô, “Thiên Chúa luôn luôn tỏ ra sẵn sàng trong việc tha thứ, và Ngài sẽ không bao giờ trở nên mỏi mệt trong việc không ngừng tái giới thiệu ơn tha thứ đó”[45]

Thiên Chúa yêu thương chúng ta, xót thương chúng ta thì chúng ta cũng phải biết xót thương tha thứ cho anh chị em, con cái của chúng ta. Giới trẻ có những bất toàn của họ, họ cần được thông cảm và  tha thứ, cần lòng xót thương của Chúa qua gia đình và Giáo Hội. Nếu gia đình và giáo hội có lòng xót thương đối với giới trẻ thì gia đình và Giáo Hội sẽ sẵn sàng chấp nhận tất cả, tha thứ tất cả, bởi vì, như thánh Phaolô nói, “đức mến tha thứ tất cả.”[46]

Tha thứ tất cả sẽ mở ra con đường sống và hy vọng. Câu chuyện người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng thánh Gioan chương 8,2-11 cho thấy trước khi gặp Chúa Giêsu người phụ nữ ngoại tình nắm chắc là mình sẽ chết vì mọi người đang chuẩn bị ném đá chị; thế nhưng nhờ câu nói của Chúa: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi,” mà những người Do Thái đã không ném đá chị. Nhất là sau khi Chúa nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” thì một sự tha thứ đến với chị, một sự sống mở ra cho chị.

Nếu chúng ta tha thứ, chúng ta cũng sẽ mở ra cho con cái chúng ta con đường sống. Sự dữ tấn công chúng ta, tấn công con em chúng ta, thì chúng ta đừng tiếp tay cho nó. “Ranh giới cuối cùng cho sự dữ chính là Lòng thương xót”, đó là câu nói Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết trong một quyển sách tựa đề Ký Ức và Căn Tính, xuất bản vài tháng trước ngày ngài mất. Đức Hồng y Ratzinger, sau này là Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, vào dip lễ khai mạc mật nghị hồng y ngày 18 tháng 04 năm 2005, đã nói: “Chúng ta lắng nghe với niềm hân hoan về việc loan báo Năm Lòng Thương Xót Chúa, vì Lòng Thương Xót đã đặt cho sự dữ một ranh giới; Đức Thánh Cha (Đức Gioan Phaolô II) nói như thế. Chúa Giêsu chính là hiện thân của lòng Chúa Thương Xót. Khi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô là chúng ta gặp gỡ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.”[47] Chúa mời gọi các gia đình và Giáo Hội chuyển tải sự tha thứ, Lòng Thương Xót Chúa đến với các bạn trẻ.

Và tha thì tha mãi mãi. Chúa bảo tha đến bảy mươi lần bảy: “Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: ‘Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?’ Đức Giê-su đáp: ‘Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.”’[48]

Cha mẹ sẵn sàng tha thứ cho các bạn trẻ, nhất là các cha giải tội thay mặt Chúa càng phải sẵn sàng tha thứ cho họ. Cũng như Chúa, các cha giải tội cũng không được mệt mỏi tha thứ cho họ. Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Các Cha Giải Tội cần phải trở thành một dấu chỉ thực sự đối với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Một Cha giải tội không chỉ đơn giản như thế. Người ta sẽ trở thành một Linh Mục Giải Tội, đặc biệt là nhờ vào việc chúng ta phải kiếm tìm ơn tha thứ trước hết cho sự thống hối của chính chúng ta. Chúng ta đừng quên rằng, trở thành Cha Giải Tội có nghĩa là, tham dự vào với sứ mạng của Chúa Giê-su, và trở nên dấu chỉ cụ thể đối với Tình Yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, tức Tình Yêu tha thứ và cứu độ. Chúng ta đã đón nhận các ơn Chúa Thánh Thần để tha thứ. Do đó, chúng ta phải có trách nhiệm. Chúng ta không phải là chủ nhân của Bí Tích này, nhưng là người quản lý trung tín ơn tha thứ của Thiên Chúa. Bất cứ vị Linh mục giải tội nào cũng cần phải đón nhận các tín hữu giống như người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng: đó là một người cha đi đến với đứa con, bất chấp việc đứa con này đã phung phí tài sản của ông.”[49]

Tha thứ và cần được tha thứ đi vi với nhau. Nếu người lớn tha thứ cho bạn trẻ thì người lớn cũng cần được tha thứ bởi các bạn trẻ. Dù ở tuổi nào, con người luôn vấp ngã, yếu đuối và tội lỗi, vì vậy họ cần được tha thứ. Cha mẹ cũng có thể làm những điều sai quấy, hoặc không lo cho con cái cách có trách nhiệm vì yếu đuối hoặc vì hoàn cảnh,… thì con cái cũng phải biết tha thứ cho cha mẹ. Người trẻ cũng cần có sự quảng đại tha thứ cho những người đã gây đau đớn cho mình, có những đau đớn tưởng chừng như không thể tha thứ được, như khi bị đánh đập, hãm hiếp… Có một thánh trẻ ai cũng biết đó là thánh Maria Goretti.

Xin trích ra đây tiểu của thánh nữ như là tấm gương cho các bạn trẻ: “Thánh Maria Goretti sinh ngày 16 tháng 10 năm 1890 tại Corinaldo, Italia, và qua đời với tư cách là vị Thánh Đồng Trinh Tử Đạo ngày mồng 06 tháng 07 năm 1902 tại Nettuno, Italia. Khi mới lên 11 tuổi, Thánh Nữ đã trở thành nạn nhân của một vụ sát hại dã man vì Thánh Nữ quyết bảo vệ sự trinh trong của mình. Cha Mẹ của Maria Goretti là ông Luigi Goretti và bà Assunta Carlini. Cả hai người đều có quê gốc tại Corinaldo, Italia, và là những nông dân thuần túy. Họ có tất cả bảy người con, và Maria Goretti là người con thứ ba. Cuộc sống của Maria Goretti, kể từ khi chào đời cho tới khi cô bị sát hại, đã diễn ra không khác gì cuộc sống của hầu hết các em bé vùng nông thôn Italia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20: không được học hành tại trường, khả năng đọc sách rất kém, thậm chí còn không thuộc bảng chữ cái, phải làm việc trong nhà và trên các cánh đồng ngay từ khi tuổi đời còn rất nhỏ. Khi Maria Goretti qua đời (lúc cô sắp mừng sinh nhật lần thứ 12), cô chỉ cao 1,38m, thiếu cân, và đã có triệu chứng mắc bệnh sốt rét đang ngày một phát triển.

Vào năm 1897, gia đình ông Luigi Goretti chuyển nơi cư trú từ Corinaldo tới Agro Pontino, tức vùng đồng bằng Pontini. Họ đến định cư tại làng Ferriere thuộc huyện Nettuno, và lại tiếp tục làm nghề canh tác ruộng vườn. Agro Pontino là một vùng đồng bằng nằm tại khu vực Đông Nam Rô-ma, và hồi đó có tên là Paludi Pontine (tức đầm lầy Pontini), vì đó là một khu vực đầm lầy thường xuyên bị tấn công bởi bệnh sốt rét. Mãi tới những năm 30 của thế kỷ 20, Mussolini mới ra lệnh phải tháo cạn nước khỏi khu vực đầm lầy đó.

Tại nơi ở mới, gia đình ông Luigi Goretti đã cùng với gia đình Serenelli điều hành một hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng chỉ một năm sau thôi thì ông Luigi Goretti, tức thân phục của Maria Goretti, đã qua đời vì bệnh sốt rét. Vì thế, cô bé Maria đã phải cùng với mẹ mình chăm lo cho gia đình. Mãi cho tới khi Maria lên 11 tuổi, cô mới được Xưng Tội Rước Lễ lần đầu.

Còn ông Serenelli, người cùng điều hành hợp tác xã nông nghiệp nói trên với gia đình Luigi Goretti, có một người con trai tên là Alexandro Serenelli, lớn hơn Maria Goretti 5 tuổi. Cậu ta là người  thanh niên hư hỏng, suốt ngày ăn chơi nêu lổng. Khi Maria Goretti xuất hiện, cậu ta đã thường xuyên đeo đuổi và gạ gẫm cô. Nhưng Maria luôn luôn cự tuyệt trước những lời gạ gẫm của cậu. Vào ngày mồng 05 tháng 07 năm 1902, lúc đó Alexandro đã 16 tuổi, anh ta tìm mọi cách để cưỡng hiếp cô bé 11 tuổi này. Khi anh ta xông vào cô bé, thì cô đã cố hô lên: „Không được, không được! Làm vậy là có tội đấy anh Alexandro ạ, anh sẽ phải sa hỏa ngục đấy!“ Khi bị Maria nhất quyết từ chối và cự tuyệt, Alexandro cảm thấy nhục nhã và vô cùng tức giận, hắn đã vớ lấy chiếc đục gỗ và đâm cô bé tới 14 nhát. Tuy nhiên, dù bị đâm tới 14 nhát, nhưng Maria vẫn còn thoi thóp. Người ta đã mang cô vào bệnh việc Nettuno. Tại đây, các bác sĩ đã tiến hành giải phẫu khẩn cấp cho cô, nhưng cuộc giải phẫu đã không thành công. Cô đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày hôm sau, tức ngày mồng 06 tháng 07 năm 1902 tại bệnh viện nêu trên lúc sắp bước sang tuổi 12. Khi Maria hấp hối, cô đã tha thứ cho kẻ giết mình với những lời sau đây: “Tôi tha thứ cho anh ta; tôi muốn có anh ta bên cạnh tôi trên Thiên Đàng.”[50]

2)     Đồng hành với giới trẻ trong sự lắng nghe

Ngày nay giới trẻ than phiền vì cha mẹ không muốn lắng nghe họ, không có thì giờ để lắng nghe họ, hoặc không biết lắng nghe họ, từ đó không hiểu họ. Có thể cha mẹ lo làm ăn, không có thì giờ nhiều để lắng nghe con cái, hoặc có thể vì trình độ chênh lệch giữa cha mẹ và con cái, nên khi ngồi lại họ khó hiểu nhau, hoặc lối sống của trẻ khác với lối sống của cha mẹ, nên đôi lúc đó cũng là ngăn trở cho cuộc đối thoại giữa cha mẹ và con cái. Dù sao cha mẹ cần thu xếp thời gian để sống với giới trẻ, quan tâm đến họ, lắng nghe họ và hiểu họ.

Thượng Hội Đồng Giám Mục nói: “Các bạn trẻ liên tục phải thực hiện các chọn lựa để định hướng cho cuộc sống của mình. Họ bày tỏ ước mong được lắng nghe, được nhìn nhận, và được đồng hành. Rất nhiều bạn trẻ nghiệm thấy chừng như tiếng nói của mình chẳng được ai quan tâm và chẳng hữu ích gì trong cộng đồng xã hội và Giáo Hội. Trong nhiều bối cảnh khác nhau, hầu như chẳng có ai quan tâm đến tiếng kêu cầu của họ, đặc biệt là trường hợp của những người nghèo nhất và bị bóc lột nhiều nhất. Cả những người lớn cũng thiếu sự sẵn sàng và khả năng lắng nghe.” [51]

Về thời gian dành để lắng nghe, Đức Phanxicô nói: “Dấu hiệu của sự lắng nghe này là thời gian tôi dành cho người ấy. Không phải vấn đề là dành thời gian bao lâu, mà là người ấy cảm thấy rằng thời gian của tôi là của họ: đó là điều người ấy cần để nói những gì muốn nói. Người ấy phải cảm thấy rằng tôi đang lắng nghe vô điều kiện, không cáu kỉnh, không nổi nóng, không tỏ vẻ buồn chán hay mệt mỏi. Đó là cách lắng nghe mà Chúa đã làm khi Người sánh bước với các môn đệ Emmau và đồng hành cùng họ một thời gian dài trên con đường ngược chiều với hướng đúng (x. Lc 24,13-35).”[52]


3.
Đồng hành với giới trẻ trong đời sống cầu nguyện

 

Giới trẻ ngày nay phải đương đầu với nhiều thử thách, vì thế dễ sa ngã, vì vậy họ cần lời cầu nguyện của gia đình. Bậc cha mẹ phải cầu nguyện cho con cái, nhất là khi trong gia đình có những đứa con ngỗ nghịch. Lời cầu nguyện đầy nước mắt của các bà mẹ chắc chắn sẽ được Chúa nhậm lời. Lời cầu nguyện sẽ giúp cha mẹ đồng hành cách thiêng liêng bên con mình. Bậc cha mẹ không bao giờ nãn lòng khi thấy dường như Chúa không nghe mình. Chúa thương con mình hơn mình thương nó, vì vậy Chúa có cách của Chúa, lúc nào đó Ngài sẽ hoán cải nó.Thánh Augustin  là một ví dụ điển hình: nếu ngài không có một người mẹ đạo đức và siêng năng cầu nguyện cho ngài thì không chắc ngài đã trở lại. Thánh nữ Monica đã lặn lội tìm con, khóc lóc kêu van cho đứa con của mình là thánh Augustinô. Cuối cùng ngài đã thỏa lòng khi nhìn thấy con mình trở về với đạo công giáo sau một thời gian sống phóng túng và theo phái Manikes. Nhờ lời kêu van của thánh nữ Monica mà thánh nhân đã trở lại.

Lời cầu nguyện luôn mang lại niềm hy vọng. Đức Bênêđictô XVI nói: “Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy vọng là cầu nguyện. Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi. Dù tôi bị đắm chìm ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn...; nếu tôi cầu nguyện thì tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi. Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, một người tù trong 13 năm, trong đó có 9 năm bị biệt giam, đã để lại cho chúng ta cuốn sách nhỏ quý giá: Những Lời Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng. Trong vòng 13 năm tù đầy, trong một tình trạng hầu như là tuyệt vọng, sự kiện là ngài có thể lắng nghe và thân thưa với Chúa đã trở nên một quyền năng hy vọng gia tăng cho ngài, khiến ngài, sau khi ra khỏi tù, đã trở nên một chứng nhân hy vọng cho dân chúng trên toàn thế giới – chứng nhân của một niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả trong những đêm đen của cô liêu.”[53]

 

3.      Đồng hành với giới trẻ trong hy vọng

Bên cạnh việc cầu nguyện cho con cái trong hy vọng và phó thác, bậc cha mẹ cũng cần cho bạn trẻ biết là luôn sống trong hy vọng, luôn biết chỗi dậy khi vấp ngã. Không bao giờ là chấm hết, dù cuộc đời có thế nào đi nữa. Mở đầu tông huấn Christus Vivit Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ với các bạn trẻ:Chúa Kitô đang sống! Người là niềm hy vọng của chúng ta, và là tuổi trẻ đẹp nhất của thế giới này. Tất cả những gì Người chạm đến đều trở nên tươi trẻ, mới mẻ, tràn đầy sức sống. Thế nên, lời đầu tiên cha muốn nói với mỗi Kitô hữu trẻ là: Chúa Kitô đang sống và Người muốn con cũng được sống!”[54]

Đức Bênêđictô XVI đưa ra gương của vị thánh trong thời đại chúng ta, ở một mức độ nào đó, có thể giúp hiểu được ý nghĩa của cuộc gặp gỡ thực sự lần đầu tiên với vị Thiên Chúa đó. Ngài nói: “Tôi nghĩ đến thánh nữ Josephine Bakhita người Phi Châu, đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh. Ngài sinh tại Darfur bên Sudan khoảng 1869 – chính ngài không biết ngày sinh chính xác của mình là ngày nào. Khi lên 9, ngài bị bắt cóc bởi những kẻ buôn bán nô lệ, bị đánh đập đổ máu, và bị bán đi bán lại đến 5 lần trong các chợ buôn nô lệ tại Sudan. Cuối cùng, ngài sống như nô lệ trong nhà thân mẫu và phu nhân của một vị tướng, và ở đó, hàng ngày ngài bị đánh đập toé máu; và hệ quả là ngài phải mang trong người 144 vết thẹo đến hết cuộc đời. Cuối cùng, năm 1882, một thương gia người Ý đã mua ngài cho viên lãnh sự Ý Callisto Legnani, người đã trở về Italia khi quân Mahdists nổi dậy. Ở đó, sau “những ông chủ” đáng sợ, những người đã làm chủ ngài cho đến lúc đó, Bakhita đã biết đến một “tôn chủ” hoàn toàn khác hẳn, một tôn chủ mà ngài đã dùng từ “Paron” trong phương ngữ Vênêtia, thứ tiếng ngài đang học, để nói về Thiên Chúa hằng sống, về Chúa Giêsu Kitô. Cho đến khi đó, ngài chỉ biết đến những ông chủ khinh miệt và đối xử tàn tệ với ngài, hay cùng lắm là coi ngài như một con nô lệ hữu dụng. Tuy nhiên, giờ đây, ngài nghe nói đến một “Paron” vượt lên mọi ông chủ, Chúa của các chúa, và vị Thiên Chúa đó thiện hảo, một sự thiện hảo tự trong bản tính. Ngài nhận ra rằng Thiên Chúa thậm chí còn biết đến ngài, và Người đã tạo ra ngài, và yêu thương ngài thật sự. Bakhita cũng đã được yêu thương, không phải bởi ai khác hơn là vị “Paron” tối cao này, Đấng mà trước mặt Người mọi thứ ông chủ khác, chính họ, không hơn gì những tôi tớ thấp hèn. Bakhita thấy mình được biết đến, được yêu thương, và được chờ đón. Hơn thế nữa, chính vị tôn chủ này cũng đã từng chấp nhận số phận bị đánh đòn và giờ đây Ngài đang chờ Bakhita ở “bên hữu Chúa Cha”. Giờ đây Bakhita có “hy vọng” – không phải cái hy vọng khiêm nhường là tìm được một ông chủ ít tàn nhẫn nhất nhưng là một niềm hy vọng lớn lao: “Tôi nhất định được yêu thương và dù điều gì xảy đến cho tôi – tôi vẫn đang được chờ đón bởi Tình Yêu này. Và vì thế đời tôi thật là đẹp”.[55]

Khi không còn gì hy vọng thì ta vẫn hy vọng. Vì sau cùng còn có Chúa. Khi cha mẹ thấy con em hư hỏng; khi dạy dỗ, con không nghe; khi thấy con cái nguội lạnh trong đời sống thiêng liêng,… họ không nên thất vọng, và dạy con cái không  bao giờ được thất vọng. Nếu Chúa không bao giờ thất vọng về  chúng ta, thì chúng ta cũng đừng bao giờ thất vọng về lòng thương xót của Ngài.

Đức Phanxicô khuyên: “Đừng để người ta cướp mất niềm hy vọng và niềm vui của con, đừng để họ làm cho con lệ thuộc vào ma tuý và sử dụng con như nô lệ phục vụ lợi ích của họ. Con hãy dám “là mình” hơn nữa, vì nhân vị của con thì quan trọng hơn bất cứ gì khác. Của cải hay ngoại hình chẳng ích gì cho con. Con có thể trở thành người mà Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo nên con, biết con là thế, nếu con nhận ra rằng con được mời gọi vươn lên. Con hãy cầu khẩn Chúa Thánh Thần và tin tưởng tiến về mục tiêu cao cả là nên thánh. Như thế, con sẽ không trở thành một bản sao. Con sẽ hoàn toàn là chính mình.”[56]

 

Kết luận

            Đã là người ai ai cũng có gia đình. Đó là nơi linh thiêng, vì đó là nơi họ sinh ra, nơi họ được nuôi dưỡng về vật chất cũng như tinh thần, nơi họ ra đi và cũng là nơi họ phải trở về để học hỏi những kinh nghiệm, để sống tương quan với cha mẹ và anh chị em của mình, để đáp trả công ơn cha mẹ, đồng thời để sống đức tin của mình. 

            Không ai từ dưới đất chui lên, hoặc từ trời rơi xuống: "Chim có tổ, con người có tổ tiên." Vì thế với tư cách là một thụ tạo có trí khôn, mỗi người phải ý thức mình có nguồn gốc, có ông bà, cha mẹ, có anh chị em. Không ý thức điều đó con người sẽ mất gốc, đánh mất căn tính của mình, và cũng từ đó đánh mất cả ý thức về Thiên Chúa, "là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất." (Ep3,15)

            Chúng ta được nuôi dưỡng và lớn lên trong gia đình. Con người sinh ra không thể tự nuôi sống mình, nó cần gia đình. Gia đình là nơi nuôi nó, giáo dục nó, nơi không chỉ cho nó ăn mà còn cho nó môi trường sống để phát triển về toàn diện. Gia đình là môi trường sống, là trường học, là xã hội đầu tiên, là nơi tiếp nhận và sống đức tin. Không có gia đình nó sẽ chết, không có gia đình nhân cách của nó sẽ phát triển què quặt, đức tin nó không được nuôi dưỡng.

            Lúc nào đó, con người phải bỏ tổ ấm để ra đi vì cuộc sống: học hành, làm việc, xây dựng gia đình..., nhờ đó xã hội mới phát triển và mỗi người cũng phong phú lên nhờ những tương quan hỗ trợ lẫn nhau, nhờ những chia sẻ với nhau về sự hiểu biết, cũng như về những kinh nghiệm sống... Thế nhưng con người ra đi mà không để mình bị tha hoá, bị lôi cuốn vào những điều xấu xa, những điều sai lạc. Muốn được vậy con người phải quay trở lại với gia đình, với những giá trị tốt lành, với đức tin của mình.

            Cũng như thánh Augustinô giới trẻ ngày nay có nguy cơ sa vào những cám dỗ của thế gian, của những chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa hưởng thụ,… để rồi đánh mất truyền thống của gia đình, đánh mất những giá trị tốt lành, và đôi lúc đánh mất đức tin mà mình thừa hưởng từ gia đình. 

            Vì vậy giới trẻ cần được giáo dục, cần ý thức cái gì là tốt, cái gì là xấu, cần ý thức về cội nguồn của mình, về những giá trị tốt lành từ gia đình, từ đức tin của mình để rồi làm gì thì làm, học gì thì học, đừng bao giờ quên cái nôi của mình, cái nôi của tình thương, cái nôi của đức tin. Từ đó họ cần thường xuyên trở về với gia đình, trở về với niềm tin tôn giáo của mình. Nếu không như thế họ sẽ trở thành những đứa con bất hiếu với cội nguồi, với ông bà cha mẹ, và nhất là với chính Thiên Chúa.

            Bên cạnh đó, giới trẻ cần được đồng hành bởi gia đình và Giáo Hội. Họ cần được giúp đỡ để ý thức hơn, để vượt qua những cám dỗ đang bao vây họ, để họ không bị mất gốc, không bị mất đức tin, không bị lạc hướng. Họ cần được giúp đỡ để luôn sống trong hy vọng. Ước mong các gia đình trở thành tổ ấm yêu thương, trở thành nơi củng cố đức tin cho giới trẻ ngày nay, nơi giới trẻ gặp lại niềm hy vọng. Cũng ước mong giới trẻ đừng bao giờ đánh mất cội nguồn của mình, mà cội người sau cùng là chính Thiên Chúa. Ngài la niềm vui,  niềm hy vọng, sự bình an, sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

-          Kinh Thánh, bản dich Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ

-          Friedrich Nietzche , Dg. Zarathustra đã nói như thế, NXB Văn Học,2014

-          Trần Thái Đỉnh, Triết Học Hiện Sinh, NXB Văn Học, 2015

-          Đức Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia - Niềm Vui của Tình Yêu.19.03.16

-          Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, 24.11.2013

-          Đức Phanxicô,  Tông Huấn Christus Vivit, 25.03.2019

-          Đức Phanxicô,  Tông Sắc Misericordiae Vultus , 11.04.2015

-          Bênêđictô XVI, Tông Huấn Porta Fidei, 11.10.2011

-          Bênêđictô XVI, Thông Điệp Spe Salvi, 30.11.2007

-          Walter Kasper, La Miséricorde: Notion fondamentale de L’Evangile, Clé de la vie chrétienne, Bản dịch tiếng việt NXB Tôn Giáo, 2016

-          Gioan Phao lô II, Thông Điệp Dives in Misericordia, 30.11.1980

 

Các Websites

-          http://catechesis.net/sieu-nhan-trong-tu-tuong-cua-nietzsche/

-          https://sjjs.edu.vn/phe-binh-ton-giao-cua-friedrich-nietzsche/#_ftn8https://sjjs.edu.vn/phe-binh-ton-giao-cua-friedrich-nietzsche/#_ftn8

-          https://nhandan.com.vn/

-          http://gpbanmethuot.com

-          https://tuoitre.vn

-          https://thethaovanhoa.vn

-          http://www.simonhoadalat.com

 

 



[1] Christus Vivit, số 84

[3]  F. Nietzsche. Dg. Zarathustra đã nói như thế, Trần Xuân Khiêm, tr 531

[4] Trần Thái Đỉnh. Triết Học Hiện Sinh, tr 132

[5]https://nhandan.com.vn/tin-tuc-y-te/bao-dong-nan-pha-thai-o-nguoi-tre-349344

 

[6] Evangelii Gaudium, số 64

[7] Bài Diễn Văn của ĐTC Phan-xi-cô trong cuộc gặp gỡ giới trẻ tại trung tâm văn hóa P. Felix Varela, Havana, Cu-ba ngày 20.09.2015

 

[8] AMORIS LAETITIA, NIỀM VUI CỦA TÌNH YÊU, số 5

 

[9] Porta Fidei, số 8

[10] Cn 15,33

[11] Hc 2,15

[12] Hc 18,13

[13] 1Sm1,11

[14] 1Sm2.26

[15] Kh3,20

[16]AMORIS LAETITIA, Niềm vui của tình yêu, số 318

[17] Christus Vivit, các số 51-62

[18] http://gpbanmethuot.com/giao-duc-kito-giao/nhung-cau-noi-cua-chan-phuoc-carlo-acutis-56738.html

[19] Bài giảng Thánh Lễ đầu tiên của Triều đại Giáo hoàng, 22.10.1978

[20] Kh 3,20

[21] Christus Vivit, số 17

[22] Mt 14,27

[23] Mt 13,4

[24] Hc 3,12-14

[25] Ep 6,1-3

[26] Thư gửi các gia đình công giao, ngày 20 tháng 11 năm 2016, Gia đình: Ơn Gọi Tình Yêu và Sứ Vụ Thương Xót,

[27] Christus Vivit, số 16

[28] Lc 2,51

[29] Rt 1,16-17

[30] https://tuoitre.vn/13-tuoi-dau-co-be-khong-cha-buon-chai-nuoi-me-va-ngoai-1357873.htm

[31] https://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/chu-va-nghia-song-truoc-do-dau-song-sau-do-day-n20191211065425241.htm

[32] https://vndoc.com/truyen-co-tich-song-ngu-danh-cho-tre-em-cai-bat-go-101251

[33] Tb 4,3-4

[34] Mt 7,12

[35] Mt 5,44

[36] 1Tm 4,12

[37] 1Tm 5,1-2

[38] Mt 5,37

[39] Đinh Đức Đạo, Linh Đạo Lòng Thương Xót, NXB Đồng Nai, tr.113

[40] THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC, PHIÊN TOÀN THỂ THƯỜNG LỆ THỨ 15: NGƯỜI TRẺ, ĐỨC TIN VÀ PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI,  số 37

[41] Sđd, số 38

[42] Christus Vivit, số 83

[43] Christus Vivit, số 66

[44] Misericordiae Vultus, số 6

[45] Misericordiae Vultus, số 22

[46] 1Cr 13,7

[47] Walter Kasper, La Miséricorde: Notion fondamentale de L’Evangile, Clé de la vie chrétienne, Bản dịch tiếng việt, trang 16

[48] Mt 18,21-22

[49] Sđd, số 17

[50] http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/Saints/Thang7/Ngay6B.htm

[51] THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC, PHIÊN TOÀN THỂ THƯỜNG LỆ THỨ 15: NGƯỜI TRẺ, ĐỨC TIN VÀ PHÂN ĐỊNH ƠN GỌI, Roma 27-10-2018, số 7

 

[52] Christus Vivit, số 292

[53] Spe Salvi, số 32

[54] Christus Vivit, số 1

[55] Đức Bênêđictô, Thông điệp SPE SALVI, số3

[56] Christus Vivit, số 107